Tri thức là sức mạnh

Chúc các Anh/Chị thành công
Phạm Phúc Vĩnh

Thứ Ba, ngày 24 tháng 4 năm 2012

Chương 3: Lịch sử Việt Nam 1965 - 1968


CHƯƠNG 3

CHIẾN ĐẤU CHỐNG “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” Ở MIỀN NAM
VÀ CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI MIỀN BẮC LẦN THỨ NHẤT
CỦA ĐẾ QUỐC MĨ (1965 - 1968)

1. Chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mĩ (1965 - 1968)
1.1. Mĩ tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam
Cuối năm 1964 đầu năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Giám đốc Cục tình báo Trung ương Mĩ nhận định rằng: “Chúng ta (Mĩ) sẽ bị sa lầy trong cuộc chiến đấu ở rừng rậm, với một cố gắng quân sự mà ta không thể giành thắng lợi và cũng rất khó lòng rút ra”[5: 10].
Để cứu vãn tình hình, tháng 12/1964, Giônxơn đã chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”: ồ ạt đưa quân viễn chinh, quân chư hầu cùng vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam Việt Nam để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược và mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc Việt Nam[1].
Chiến lược “chiến tranh cục bộ” chính thức bắt đầu từ giữa năm 1965. Đây là hình thức xâm lược thực dân mới được tiến hành bằng lực lượng quân viễn chinh Mĩ, quân chư hầu và ngụy quân. Trong đó quân Mĩ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng lẫn trang bị.
Đầu năm 1965, những hoạt động chuẩn bị cho chiến lược chiến tranh mới này bắt đầu được đẩy mạnh: cuối năm 1964, lực lượng quân Mĩ có mặt ở miền Nam khoảng 26.200, đến cuối năm 1965 đã tăng lên đến 200.000, đến cuối năm 1967 là 537.000. Chưa kể 70.000 lính Mĩ ở Hạm đội 7 và 20.000 lính chư hầu sẵn sàng tham chiến. Ngày 8/2/1965, Mĩ đưa đại đội máy bay F105 vào Biên Hòa, sau đó đưa tiểu đoàn tên lửa phòng không “Hock” vào Đà Nẵng. Ngày 8/3/1965, tiểu đoàn lính thủy đánh bộ số 1 và số 3 thuộc lữ đoàn Hải quân viễn chinh số 9 của Mĩ đổ bộ vào Đà Nẵng, mở đầu cho quá trình tham chiến trực tiếp của Mĩ ở miền Nam.
Ngày 01/5/1965, Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ Oét – mo – len đã đề xuất với chính phủ Mĩ một “chương trình hợp tác” bao gồm ba nội dung chính là: tảo thanh, bảo đảm an ninh, tìm và diệt, được thực hiện qua ba giai đoạn:
Giai đoạn 1 (từ tháng 7 đến tháng 12/1965): Triển khai các đơn vị chiến đấu Mĩ và quân một số nước đồng minh của Mĩ vào miền Nam, ngăn chặn sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn, hoàn thành việc triển khai lực lượng, chuẩn bị cho các cuộc hành quân giành lại thế chủ động trên chiến trường.
Giai đoạn 2 (từ tháng 01 đến tháng 6/1966): mở cuộc phản công chiến lược tìm và diệt ở những vùng ưu tiên đã được xác định, tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng miền Nam, phá chiến tranh du kích, giành lại quyền chủ động chiến trường, tổ chức các hoạt động bình định nông thôn.
Giai đoạn 3 (từ tháng 7/1966 đến tháng 6/1967 hoặc chậm lắm là cuối năm 1967): mở tiếp các cuộc tiến công “tìm và diệt” những đơn vị chủ lực quân giải phóng còn lại, phá căn cứ kháng chiến và tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam, hoàn thành về cơ bản kế hoạch bình định nông thôn, rút quân Mĩ về nước.
Ngày 26/6/1965, chính phủ Mĩ cho phép đưa quân Mĩ ra trận “khi nào thấy cần thiết”. Và quân đội Mĩ đã mở đầu hành động quân sự của mình ở miền Nam Việt Nam bằng một cuộc hành quân hỗn hợp (gồm lữ đoàn dù 173, một tiểu đoàn Úc cùng với lực lượng ngụy quân) tấn công vào phía Tây Bắc Sài Gòn kéo dài 5 ngày (đến ngày 30/6/1965).
Tiếp đến, Giôn – xơn đã chấp thuận đề nghị sử dụng sức mạnh của lực lượng quân sự Mĩ để tiến hành các cuộc càn quét “tìm diệt” các lực lượng “cộng sản” của tướng Oét – mo – len và quyết định tăng quân Mĩ lên đến 44 tiểu đoàn (17/7/1965) để đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch này.
Mục tiêu của “chiến lược chiến tranh cục bộ” là:
1. Nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực có thể áp đảo được chủ lực của ta bằng chiến lược quân sự mới “tìm và diệt”, cố giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang của ta trở về phòng ngự, buộc ta phải phân tán nhỏ, hoặc rút về biên giới, làm cho cuộc chiến tranh cách mạng tàn lụi dần.
2. Mở rộng và củng cố hậu phương của chúng, lập đội quân “bình định” kết hợp với hoạt động quân sự, càn quét với các hoạt động chính trị và xã hội lừa bịp; tung tiền của vào miền Nam ngày càng nhiều để thực hiện cho kì được “mặt trận thứ hai” nhằm vào cái mà chúng gọi là “tranh thủ trái tim nhân dân”, thực chất là giành lại dân, trước hết là nông dân ở vùng được giải phóng, bắt họ trở lại ách kìm kẹp tàn bạo của Mĩ - ngụy.[37: 168]
Bắt đầu từ năm giữa năm 1965, Mĩ mở hàng loạt cuộc hành quân lớn với mục tiêu “tìm diệt và bình định” nhằm vào các căn cứ cách mạng: mở đầu là cuộc hành quân “tìm diệt” mang tên “ánh sáng sao”, đánh vào căn cứ của ta ở Vạn Tường – Quảng Ngãi. Tiếp đó, Mĩ mở liên tiếp hai cuộc phản công lớn trong hai mùa khô 1965 - 1966 và mùa khô 1966 - 1967[2] với hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào những vùng “đất thánh Việt Cộng”, hòng tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng kháng chiến của ta.
1.2. Chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mĩ
Trước hành động leo thang quân sự của Mĩ ở miền Nam Việt Nam, Hội nghi Trung ương lần thứ 12 của Đảng đã nhận định: “đó vẫn là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, tính chất và mục tiêu quân sự của nó không có gì thay đổi. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh này diễn ra ác liệt hơn, vì từ chỗ hoàn toàn dựa vào quân đội Sài Gòn, nay thêm cả quân viễn chinh Mĩ và quân của 5 nước: Nam Triều Tiên, Thái Lan, Philíppin, Úc, Tân Tây Lan, với quân số đông và thiết bị hiện đại hơn nhiều”[28: 202]
Vậy thực lực của ta liệu có đủ sức để đối phó với âm mưu chiến lược mới của kẻ thù hay không?
Lúc này ta đang nắm quyền chủ động trên chiến trường, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, liên hoàn giữa ba vùng chiến lược. Năm 1964, lực lượng chủ lực của ta ở miền Nam đã có 11 trung đoàn và 15 tiểu đoàn, đến cuối năm 1964, đã lên đến 5 sư đoàn, 11 trung đoàn bộ binh, nhiều tiểu đoàn, trung đoàn binh chủng kĩ thuật trang bị tương đối hiện đại. Lực lượng đặc công, biệt động của ta rất tinh nhuệ, dày dạn kinh nghiệm…
Ta lại có hệ thống căn cứ địa cách mạng vững chắc, lực lượng của ta được bố trí cài ém, xen kẻ với địch tạo thế “cài răng lược”, tạo được hiệu quả cao trong chiến đấu và làm cho địch không thể phát huy được tối đa thế mạnh của các phương tiện chiến tranh hiện đại.
Có thể nói, nếu so sánh riêng về quân sô và tranh thiết bị, vũ khí thì ta không hiện đại, chính quy như địch, nhưng so sánh về tổng thể thì địch lại đang ở thế bị động và có nhiều hạn chế. Những hạn chế của địch đã làm cho so sánh lực lượng có phần nghiêng về lực lượng cách mạng.
Trung ương đã phân tích rằng, cuộc chiến tranh của Mĩ ở miền Nam Việt Nam càng mở rộng và kéo dài thì sẽ càng bộc lộ nhiều mâu thuẫn. Đây là những điều kiện thuận lợi để ta phát huy thế mạnh của chiến tranh nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Những mâu thuẫn đó là:
1. Mâu thuẫn giữa mục đích muốn giấu mặt trá hình để áp đặt chủ nghĩa thực dân mới nhưng buộc phải tiến hành chiến tranh bằng quân viễn chinh Mĩ, nên chúng nhanh chóng bị lộ mặt.
2. Mâu thuẫn giữa tiến hành chiến tranh xâm lược nhưng phải xây dựng cho được chính quyền, quân đội tay sai bản xứ làm chỗ dựa và là công cụ xâm lược của Mĩ nhằm áp đặt cho được chủ nghĩa thực dân kiểu mới.
3. Mâu thuẫn khi buộc phải tiến hành chiến tranh để giữ vững và củng cố chính quyền, quân đội tay sai với thực tế càng tiến hành chiến tranh thì chính quyền và quân đội đó càng lục đục, suy yếu, lệ thuộc Mĩ, đồng thời kéo theo sự suy yếu của chính bản thân Mĩ.
4. Mâu thuẫn giữa sức mạnh quân sự vốn có, nhưng do phi nghĩa và đặc điểm của thời đại chi phối, lại phải tiến hành chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới nên đế quốc Mĩ không thể sử dụng hết sức mạnh quân sự của bản thân chúng trong cuộc chiến tranh cách xa nước Mĩ.[37: 171]
Trên cơ sở những phân tích đó cùng với điều kiện thực tế, Hội nghị 12 đã đi đến kết luận: “Mặc dù đế quốc Mĩ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn…; quân và dân miền Nam hoàn toàn có khả năng tiêu diệt những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân viễn chinh Mĩ, tiêu diệt những đơn vị ngày càng lớn của quân chủ lực ngụy…”[37: 172]
Phương châm chiến lược được đề ra trong giai đoạn này là “tiếp tục kiên trì đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công, … tiếp tục quán triệt và vận dụng phương châm đánh lâu dài”[Dẫn lại; 5: 162,163]
Dưới ánh sáng của Nghị quyết 12, với ý chí “quyết chiến, quyết thắng giặc Mĩ xâm lược”, cùng với sự chi viện của miền Bắc và sự giúp đỡ của bè bạn quốc tế, quân và dân miền Nam đã từng bước đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mĩ trên tất cả các lĩnh vực.
1.2.1. Đấu tranh chính trị phát triển
Mĩ - ngụy đẩy mạnh thực hiện chương trình “bình định” bằng những chương trình mang tên mới như “Chương trình phát triển cách mạng quốc gia”, “chương trình tái thiết nông thôn”, “Chương trình chống nghèo đói”. Đồng thời, các ấp chiến lược cũng được đổi thành những tên gọi mới là “ấp đời mới”, “ấp tân sinh”… Và để thực hiện những chương trình này, chúng đã huy động lực lượng quân đội mở các cuộc càn quét, dồn dân vào các “ấp đời mới”, “ấp tân sinh” nhằm tách quần chúng cách mạng ở nông thôn ra khỏi lực lượng cách mạng.
Hành động tàn bạo của Mĩ - ngụy đã làm cho phong trào đấu tranh của quân chúng nhân dân ở các vùng nông thôn miền Nam chống kìm kẹp, chống dồn dân, trừng trị bọn ác ôn… diễn ra quyết liệt. Kết quả, từng mảng “ấp đời mới”, “ấp tân sinh” do chúng lập ra đã bị phá vỡ.
Ở các thành thị, công nhân, học sinh, sinh viên, phật tử… bắt đầu nổi lên đấu tranh đòi Mĩ cút về nước, đòi tự do, dân chủ, dân sinh…trong cuối năm 1955 và bùng phát mạnh mẽ vào đầu năm 1956, tiêu biểu như:
Ngày 12/3/1966, lực lượng các tín đồ phật giáo yêu nước ở Huế đã tổ chức mittinh ở chùa Diệu Đế và thành lập lực lượng tranh thủ cách mạng. Và sinh viên Huế cũng đã thành lập “Hội đồng sinh viên tranh thủ cách mạng”. Sau đó, hoạt động đấu tranh chính trị của sinh viên, phật tử diễn ra mạnh mẽ ở huế và lan rộng đến Đà Nẵng và Sài Gòn.
Đồng thời uy tín của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế: các nước xã hội chủ nghĩa đã có quan hệ với mặt trận, cương lĩnh chính trị của Mặt trận được 41 chính phủ và 12 tổ chức quốc tế lên tiếng ủng hộ.
1.2.2. Đấu tranh trên lĩnh vực quân sự
1.2.2.1. Chiến thắng Núi Thành (Quảng Nam)
Sau khi chiếm đóng Chu Lai, Mĩ đã huy động một đại đội tiến hành càn quét lên phía Tây và chiếm Núi Thành (Quảng Nam) để mở rộng vùng kiểm soát. Trước tình hình trên, Bộ tư lệnh quân khu V và Tỉnh đội Quảng Nam đã quyết định tấn công vào Núi Thành.
Vào lúc 0 giờ 30 phút ngày 26/5/1965, quân ta đã mở màn trận tấn công vào nơi đóng quân của Mĩ ở Núi Thành. Kết quả, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 140 tên, thu toàn bộ vũ khí và quân dụng của địch.
Tuy chỉ là một chiến thắng nhỏ, nhưng đây là trận thắng Mĩ đầu tiên của quân dân miền Nam. Với khí thế Núi Thành, quân dân miền Nam đã đưa ra khẩu hiệu hành động “tìm Mĩ mà đánh, gặp Mĩ là diệt”.
1.2.2.2. Chiến thắng Vạn Tường (Quảng Ngãi)
Vạn Tường là một thôn nhỏ ven biển thuộc xã Bình Thiện, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, cách căn cứ Chu Lai khoảng 17 km về hướng Đông Nam. Đây là vùng đã được giải phóng từ năm 1965, là nơi đóng quân của Trung đoàn 1 chủ lực Quân khu 5 và bộ đội địa phương.
Sau khi phát hiện quân chủ lực của ta đang đóng ở Vạn Tường, Quân đội Mĩ đã huy động một lực lượng lớn lính thủy đánh bộ mở cuộc hành quân mang tên “Ánh sáng sao” – Starlite đánh vào Vạn Tường, nhằm tiêu diệt chủ lực của ta ở đây.
Đêm 17/8, địch đã pháo kích vào các thôn xóm trong khu vực để dọn đường cho cuộc tiến công. Đến mờ sáng ngày 18/8/1965, hơn 9.000 lính thủy đánh bộ Mĩ và quân ngụy cùng với nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại (6 tàu đổ bộ, xe tăng và xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70 máy bay chiến đấu) đã tấn công vào Vạn Tường  để “tìm diệt” lực lượng chủ lực của ta.
Tại đây, chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân ta[3]. Sau một ngày chiến đấu, ta đã đẩy lùi được cuộc hành quân của địch, tiêu diệt được hơn 900 tên, phá hủy hàng chục xe tăng, xe bọc thép và máy bay của địch. Đêm 18 rạng ngày 19/8/1965, lực lượng của ta bí mật rút khỏi Vạn Tường.
 Chiến thắng Vạn Tường đã cho thấy, quân và dân ta hoàn toàn có khả năng đánh thắng được Mĩ. Nói về ý nghĩa của chiến thắng Vạn Tường, Tổng Bí thư Lê Duẩn viết: “… trận Vạn Tường đã chứng tỏ một cách hùng hồn khả năng của ta đánh bại được quân Mĩ trong điều kiện chúng có ưu thế tuyệt đối về binh khí, hỏa lực”. [26: 131]
Sau chiến thắng Vạn Tường, phong trào “tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” của quân dân ta trên khắp miền Nam phát triển mạnh mẽ. Nhiều trận đánh phủ đầu quân viễn chinh Mĩ đã diễn ra liên tục ở khu V, Trị - Thiên, Đông Nam bộ và tiêu biểu là trận Plâyme – Tây Nguyên (từ 19/10 đến 20/11/1965).
1.2.2.3. Đánh tan hai cuộc phản công mùa khô 1965 – 1966
Những thất bại của Mĩ trong năm 1965 đã thúc đẩy chính quyền Mĩ tiếp tục tăng thêm quân số và phương tiện chiến tranh ở miền Nam: Đến cuối năm 1965, quân số của Mĩ ở miền Nam đã lên đến hơn 20 vạn như kế hoạch, sang đầu năm 1966, Mĩ đưa thêm hai trung đoàn lính thủy đánh bộ số 1 và số 5 cùng tập đoàn không quân số 7 vào miền Nam, nâng quân số của Mĩ và các nước đồng minh của Mĩ ở miền Nam lên đến 720.000 quân.
Sau những thất bại liên tiếp trong năm 1965, Bộ chỉ huy quân sự Mĩ đã ráo riết chuẩn bị mở cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966 (nhằm tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi trong mùa khô ở miền Nam để phát huy tối đa tính cơ động, sức mạnh của vũ khí, kĩ thuật và phương tiện chiến tranh hiện đại trong tác chiến) để tìm diệt lực lượng chủ lực của ta.
Địch đã sử dụng một lực lượng mạnh cùng các phương tiện chiến tranh hiện đại mở cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965 - 1966) kéo dài 4 tháng với 450 cuộc hành quân lớn nhỏ, trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt” lớn nhằm vào năm hướng chiến lược chính[4] thuộc hai chiến trường trọng điểm là Đông Nam Bộ và Đồng bằng khu 5 nhằm tiêu diệt chủ lực quân giải phóng, “bẻ gãy xương sống Việt Cộng”, giành lại thế chủ động trên chiến trường.
Ngày 8/01/1966, quân Mĩ và chư hầu chính thức mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất đánh vào miền Đông Nam bộ. Mở đầu là cuộc hành quân Maroser đánh vào Bàu Trai, Hậu Nghĩa, sau đó, chúng mở tiếp cuộc hành quân Grimg đánh vào Củ Chi, Bến Cát. Đầu tháng 2/1966, quân Mĩ tiến xuống phía Đông Sài Gòn và chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh).
Ngày 19/1/1966, quân Mĩ đánh ra nam tỉnh Phú Yên, mở đầu cho cuộc tấn công khu V. Ngày 28/01/1966, địch mở cuộc tiến công bắc Bình Định, đồng thời chúng còn tấn công ở Hảo Sơn và đèo Cả thuộc tỉnh Phú Yên để yểm trợ cho cuộc tiến công ở hướng bắc Bình Định. Ở hướng nam Quảng Ngãi, địch mở cuộc hành quân Double Aighle đánh vào Đức Phổ, Mộ Đức và Ba Tơ.
Quân dân ta với thế trận chiến tranh nhân dân, bằng nhiều hình thức tác chiến khác nhau đã chặn đánh địch ở khắp mọi hướng, tiến công địch ở mọi nơi… Trong 4 tháng mùa khô 1965 - 1966, ta đã loại khỏi vòng chiến 104.000 tên địch, trong đó có 42.000 quân Mĩ và 35.000 quân chư hầu, bắn hạ 1430 máy bay, phá hủy 600 xe tăng, thiết giáp và trên 1.310 ôtô… của địch.
Tổng kết về thắng lợi của ta trong giai đoạn này, Tướng Nguyễn Chí Thanh đã nhận đinh: “Chúng ta đã chiến thắng “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ngụy từ đầu, quân và dân miền Nam chẳng những đã tiếp tục đánh thắng và làm tan rã ngụy quân, mà còn đánh thắng hiệp đầu quân Mĩ, một đội quân hùng mạnh và hiện đại nhất của thế giới tư bản. Chúng ta giành thắng lợi cả về chính trị và quân sự, và chủ yếu đó là thắng lợi quân sự”[Dẫn lại; 37: 176].
1.2.2.4. Đánh tan hai cuộc phản công mùa khô 1966 – 1967
Sau thất bại của cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966, Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ Mc. Na – ma – ra quyết định tiếp tục đưa cuộc chiến lên một mức cao hơn, và đã đệ trình lên tổng thống Mĩ một bản kiến nghị bao gồm 5 điểm:
1. Ổn định quân số Mĩ ở miền Nam Việt Nam là 47 vạn.
2. Thiết lập một hàng rào điện tử nằm gần vĩ tuyến 17, kéo dài từ biển sang Lào nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc.
3. Ổn định chương trình “sấm rền” đánh phá miền Bắc.
4. Theo đuổi một chương trình bình định mạnh mẽ.
5. Gây sức ép đòi thương lượng.[37: 176]
Mùa khô 1966 - 1967, Mĩ huy động một lực lượng lên đến 980.000 quân (trong đó có 440.000 lính Mĩ và chư hầu) mở cuộc phản công lần thứ hai tấn công trực tiếp vào hướng Đông Nam bộ nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta, tạo bước ngoặt trong chiến tranh.
Chúng đã tiến hành 895 cuộc hành quân “tìm diệt” lớn nhỏ tất cả, trong đó có 3 cuộc hành quân “tìm diệt” then chốt:
+ At-tơn-bo-rơ đánh vào chiến khu Dương Minh Châu (tháng 11 năm 1966)
+ Xê-da-phôn đánh vào Trảng Bàng, Bến Súc, Củ Chi – vùng đất được mệnh danh là “tam giác sắt” (tháng 1 năm 1967).
+ Gian-xơn-xi-ty đánh vào vùng Bắc Tây Ninh – căn cứ của Trung ương cục Miền Nam và các cơ quan trung ương khác của cách mạng miền Nam (từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1967).
Tháng 6 năm 1966, Trung ương Đảng chủ động mở mặt trận đường 9 Bắc Quảng Trị để buộc địch phải phân tán một bộ phận chủ lực quan trọng ra phía Bắc. Đồng thời ngày 20/10/1966, Ủy ban Trung ương mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra lời kêu gọi quân và dân miền Nam đứng lên “đập tan kế hoạch phản công mới của Mĩ - ngụy, quyết giành được thắng lợi thật to lớn trong Đông – Xuân 1966 - 1967”.[5: 214]
Quân và dân Nam bộ đã phối hợp với các chiến trường khác mở hàng loạt cuộc phản công, từng bước đánh bại các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” của địch; ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 151.000 tên, trong đó có 68.000 lính Mĩ và 5500 quân chư hầu, bắn rơi 1231 máy bay, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch.
1.2.2.5. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Sau 2 cuộc phản công mùa khô, so sánh tương quang lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta. Số lính Mĩ bị thương vong trên chiến trường Việt Nam ngày càng nhiều và chi phí cho cuộc chiến ngày càng tăng thì sự phản đối cuộc chiến tranh càng lan rộng hơn và những quan điểm ủng hộ việc rút quân Mĩ khỏi Việt Nam cũng bắt đầu tăng nhanh trong giới chính khách Mĩ. Ngay cả Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ Mc. Na-ma-ra - một người đã từng ủng hộ việc đưa quân vào miền Nam và ném bom miền Bắc kể từ tháng 8 năm 1966 - cũng đã bắt đầu tỏ ra "nản chí trước sự huỷ diệt Việt Nam bằng sức mạnh khổng lồ của sắt thép, chất nổ và tỏ ra lo lắng trước tổn thất về phi công và máy bay, không lạc quan đối với kết quả của việc ném bom và quan trọng hơn hết là lo lắng rằng việc tăng cường cuộc tiến công trên không và trên mặt đất sẽ dẫn đến các cuộc chiến tranh mở rộng với Trung Quốc và Liên Xô"[34:58] và ngày 01 tháng 11 năm 1967, trong một bị vong lục gởi Tổng thống, Mc Na - ma - ra đã đệ trình một loạt các kiến nghị: ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam. Tuyên bố Mĩ không tiếp tục gởi quân sang miền Nam Việt Nam và xem xét những cuộc hành quân quân sự của Mĩ nhằm giảm bớt thương vong, giảm bớt sự tàn phá đất nước Việt Nam và chuyển vai trò ngày càng lớn lao cho lực lượng quân sự miền Nam Việt Nam.
Song, những đề nghị này lại bị những cố vấn thân cận của Tổng thống và tổng thống Johnson bác bỏ và kết quả là mấy tháng sau, Mc Na - ma - ra phải rời ghế Bộ trưởng bộ quốc phòng sang làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới.
Đến cuối năm 1967 đầu năm 1968, Johnson vẫn tin rằng Mĩ có thể kết thúc chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam bằng một thắng lợi quân sự cuối cùng chứ không phải bằng cách mà Mc Na - ma - ra đề nghị. Johnson rất khả quan về tình hình chiến sự ở Việt Nam thông qua những báo cáo và những con số thống kê được gởi về từ chiến trường Việt Nam và Johnson chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ phải chấp nhận thất bại, xuống thang chiến tranh để giải quyết vấn đề Việt Nam: Trong tháng 11 năm 1967, tướng Westmoreland đã tuyên bố trước một phiên họp của liên viện Quốc hội Mĩ rằng "Chiến tranh đang diễn ra ở Việt Nam và sẽ chiến thắng bằng quân sự". Hơn một tháng sau (17/01/1968), Tổng thống Johnson cũng hết lời ca ngợi: “chương trình bình định ở miền Nam Việt Nam đang tiến triển một cách thật đáng hài lòng. Cứ theo các con số thống kê ghi nhận được thì đã có đến 67% dân số ở Nam Việt Nam sống tại các vùng tương đối an ninh; và con số phần trăm này có khuynh hướng ngày một gia tăng"[34:25].
Những kết quả được báo cáo thiếu thực tế trên đã giúp chính quyền Giôn – xơn tạo được uy tín để giành thắng lợi trong cuộc bầu cử trong năm 1968. Nếu sự thật về những thất bại của Mĩ trong cuộc chiến tranh Việt Nam trong giai đoạn này được phơi bày thì Giôn – xơn và đảng của ông ta sẽ lâm vào một tình thế khó khăn và bất lợi trước dư luận của công chúng Mĩ.
Chính vì vậy, Đảng đã chủ trương mở cuộc “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa” trên khắp chiến trường miền Nam, chủ yếu là ở các đô thị, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Mĩ - ngụy, buộc Mĩ phải rút quân về nước.
Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 01 năm 1968, quân chủ lực của ta đã đồng loạt tấn công và nổi dậy ở 37/44 thị xã, 5/6 thành phố trên toàn miền Nam.
Tại Sài Gòn, quân ta đã tấn công vào các vị trí cơ quan đầu não của địch như Tòa Đại sứ Mĩ, Dinh Độc lập, đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng Nha cảnh sát…
Tại Huế, Quân ta đã chiếm hầu hết các mục tiêu quan trọng như Dinh tỉnh trưởng, đài phát thanh, Khách sạn Thuận Hóa, sân bay … và làm chủ thành phố trong 25 ngày (từ 31/1/1968 đến 25/2/1968).
Tại nhiều thành phố, thị xã khác như: Kontum, Plâycu, Buôn Ma Thuột, Quảng Trị, Biên Hòa, Bến Tre, Mĩ Tho,… các lực lượng vũ trang nhân dân đã nổi dậy tiến công mạnh mẽ gây cho địch nhiều tổn thất.
Sau chưa đầy 2 tháng, quân ta đã loại khỏi vòng chiến 150.000 tên, trong đó có 45.000 lính Mĩ và chư hầu, phá hủy một khối lượng lớn vật chất và phương tiện chiến tranh của địch.
Sau đợt tấn công Tết, ta tiếp tục tiến công đợt 2 (4/5 – 18/6) và đợt 3 (17/8 – 23/9). Tuy nhiên hai đợt tấn công này không còn giữ được yếu tố bất ngờ và địch còn mạnh nên ta không giành được những thắng lợi lớn như đợt tấn công Tết.
Đây là một đòn bất ngờ làm cho địch choáng váng, nhưng lực lượng của địch còn mạnh, nên chúng đã nhanh chóng tổ chức phản công giành lại những mục tiêu bị ta chiếm và đồng thời cũng đã làm cho ta bị tổn thất khá nặng nề.
Tuy vậy, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã tác động mạnh mẽ đến nước Mĩ: phong trào phản chiến đòi Mĩ rút quân khỏi Việt Nam ở Mĩ dâng cao, buộc tổng thống Giôn- xơn phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh; thay chiến lược “tìm diệt và bình định” bằng chiến lược mới là “quét và giữ”, quân đội Nam Việt Nam sẽ thay thế dần vai trò của quân đội Mĩ trên chiến trường, giảm các cuộc hành quân quy mô lớn, mở ra bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta.
Ngày 31 tháng 3 năm 1968, Giôn-xơn tuyên bố không ra tranh cử nhiệm kì thứ hai và ra lệnh ngừng ném bom bắn phá ở miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta.
Như vậy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã làm thất bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ ở miền Nam Việt Nam.
2. Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mĩ, vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1968)
2.1. Mĩ tiến hành chiến tranh không quân và hải quân phá hoại miền Bắc
Tấn công phá hoại miền Bắc là một kế hoạch được tiến hành song song với chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam nhằm đánh vào hậu phương của cách mạng miền Nam.
Tháng 4/1964, Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mĩ đã vạch ra kế hoạch ném bom miền Bắc và thông qua danh sách 94 mục tiêu đánh phá khi được lệnh. Trước đó, tháng 3/1964, Mĩ cũng đã có kế hoạch dùng tàu khu trục để tuần tiểu vịnh Bắc bộ, tiến hành trinh sát ven biển Việt Nam.
Để có cớ tấn công miền Bắc, ngày 31/7/1964, tàu khu trục Ma - đốc của Mĩ đã tiến vào hải phận nước ta để do thám. Hôm sau, chúng cho máy bay T28 đánh phá các đồn biên phòng của ta ở Nậm Cắn, Noong De thuộc tỉnh Nghệ An. Ta đã dùng ba tàu phóng lôi đánh đuổi và buộc tàu Ma - đốc phải rút ra hải phận quốc tế.
Ngày 03/8/1964, Mĩ tiếp tục điều thêm tàu Tớc -nơ - gioi cùng tàu Ma - đốc trở lại vịnh Bắc bộ. Ta chưa có phản ứng gì, nhưng đêm 4/8/1964, Mĩ đã vu cáo rằng Việt Nam tấn công hải quân Mĩ trên hải phận quốc tế. Và Giôn - xơn đã cho không quân Mĩ mở các cuộc "trả đũa" nhằm vào miền Bắc nước ta, đồng thời yêu cầu Quốc hội Mĩ thông qua Nghị quyết vịnh Bắc bộ.
Ngày 07/81964, Quốc hội Mĩ thông qua “Nghị quyết về sự kiện Vịnh Bắc bộ", cho phép Giôn - xơn "tiến hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả sử dụng lực lượng vũ trang để giúp đỡ bất kỳ quốc gia nào là thành viên hoặc nước bảo trợ của SEATO yêu cầu giúp đỡ"[1: 95,96]
Tháng 12/1964, Tổng thống Giôn - Xơn thông qua “Kế hoạch Mc. Namara – Bânđi – Nâutơn nhằm mở rộng chiến tranh ra miền Bắc vào giữa năm 1965.
Sau thất bại ở Bình Giã, Mĩ đã thực hiện kế hoạch trên sớm hơn dự định. Ngày 07/2/1965, Giôn - xơn ra lệnh cho không quân Mĩ mở chiến dịch "Mũi lao lửa", ném bom bắn phá thị xã Đồng Hới, đảo Cồn Cỏ, chính thức mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Đây là cuộc chiến tranh được Mc. Na – ma - ra coi như một biện pháp bổ sung chứ không phải biện pháp thay thế cho cuộc chiến tranh trên bộ của Mĩ ở miền Nam nhằm hạn chế sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, từ đó làm giảm sức tiến công của lực lượng cách mạng miền Nam.
Mĩ đã huy động hàng nghìn máy bay tối tân, thuộc 50 loại khác nhau, trong đó có cả máy bay B52, F111 cùng các loại vũ khí hiện đại và một lực lượng hải quân thường xuyên có mặt ở Thái Bình Dương, các căn cứ hải quân ở Nam Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác.
Lực lượng không quân và hải quân Mĩ đã ném bom, bắn phá liên tục với cường độ ngày càng tăng. Trung bình mỗi ngày, miền Bắc phải hứng chịu khoảng 1.600 tấn bom đạn của Mĩ trút xuống.
Mục tiêu tấn công của Mĩ không chỉ là các căn cứ quân sự mà còn bao gồm cả những mục tiêu dân sự: các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, công trình thủy lợi, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà thờ, nhà trẻ, chùa chiền…
2.2. Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mĩ
Cuộc chiến tranh phá họai miền Bắc của Mĩ đã đẩy cả nước vào tình trạng chiến tranh; nhiệm vụ của miền Bắc cũng thay đổi so với trước. Để phù hợp với tình hình mới, tháng 01/1965, Hội đồng quốc phòng đã họp và đề ra nhiệm vụ, phương hướng công tác trước mắt của miền Bắc là tăng cường công tác phòng thủ, trị an, sẵn sàng chiến đấu.
Để chống chiến tranh phá hoại của Mĩ, miền Bắc đã thực hiện “quân sự hóa toàn dân”, đào đắp công sự chiến đấu, hầm hào, phân tán dân khỏi những vùng trọng điểm để tránh thiệt hại lớn, đảm bảo đời sống ổn định cho người dân.
Ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi khẳng định ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống giặc Mĩ xâm lược “Giôn xơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, một triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mĩ cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng… chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”[22: 108]
Trên tinh thần đó, nhân miền Bắc đã huy động toàn dân chống giặc; bên cạnh lực lượng phòng không, hải quân với vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, lực lượng dân quân, du kích, tự vệ chiến đấu của toàn dân không ngừng ngày đêm hỗ trợ, phục vụ chiến đấu và khắc phục hậu quả do chiến tranh tàn phá.
Trong hơn 4 năm (từ 05/8/1964 - 01/11/1968), quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 3.234 máy bay Mĩ (trong đó có 6 máy bay B52, 3 máy bay F.111) diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái Mĩ; bắn chìm và bị thương 43 tàu chiến và tàn biệt kích.[28: 219]
Cùng với những thất bại ở chiến trường miền Nam, đặc biệt là sau cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa tết Mậu Thân – 1968, Mĩ buộc phải tuyên bố ném bom hạn chế miền Bắc từ vì tuyến 20 trở ra kể từ ngày 31/3/1968 và đến ngày 01/11/1968, Mĩ ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc hoàn toàn.
2.3. Tiếp tục tiến lên chủ nghĩa xã hội, chi viện cho miền Nam
Như vậy, bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, miền Bắc còn phải tiếp tục xây dựng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện có chiến tranh và chi viện cho miền Nam chống “chiến tranh cục bộ” của Mĩ.
Nhận thức rõ vai trò to lớn của hậu phương đối với tiền tuyến, Đảng ta đã đúc kết được rằng: "không có hậu phương lớn miền Bắc được tạo ra trong kết quả lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội thì không có thắng lợi trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam. Hơn nữa bản thân cuộc chiến đấu của nhân dân miền bắc cũng cần có một hậu phương tại chỗ được tạo ra bằng lao động của chính mình"[28: 216] và đưa ra quyết tâm: "bất cứ tình hình như thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố, phải tiến lên chủ nghĩa xã hội"[28: 216]
Để phù hợp với tình hình mới, Đảng đã chủ trương chuyển hướng nền kinh tế miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, tập trung vào việc xây dựng và phát triển kinh tế vùng, kinh tế địa phương nhằm bảo đảm cho mỗi vùng, miền, mỗi địa phương chủ động hơn trong việc duy trì và đẩy mạnh sản xuất, tự cung, tự cấp những mặt hàng thiết yếu trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Báo cáo của Hội đồng Chính phủ tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa VII (4/1966) đã xác định: "Phát triển kinh tế địa phương với tốc độ nhanh hơn bình thường, đó là phương hướng cơ bản để làm cho bất kỳ nơi nào cũng có thể phát huy được lực lượng của mình để đánh địch theo đường lối chiến tranh nhân dân".[45: 142].
Nhờ chủ trương và biện pháp đúng đắn trên của Đảng, nhân dân miền Bắc đã vượt qua được những khó khăn, thách thức, dấy lên một cao trào cách mạng rộng lớn chưa từng có của quần chúng nhân dân trong lao động sản xuất; giai cấp công nhân nêu cao quyết tâm, “chắc tay súng vững tay búa”, cần cù và sáng tạo trong lao động sản xuất, dũng cảm và mưu trí trong chiến đấu, quyết tâm phấn đấu đạt "ba điểm cao" - năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều; cán bộ công nhân viên thi đua thực hiện "ba cải tiến" - cải tiến công tác, cải tiến tổ chức, cải tiến lề lối làm việc; thanh niên có phong trào "ba sẵn sàng" - sẵn sàng chiến đấu, nhập ngũ và đi bất cứ nơi đâu khi tổ chức cần; phụ nữ có phong trào "ba đảm đang", trong ngành giáo dục có phong trào thi đua "hai tốt" – dạy tốt, học tốt.
Tất cả nhân dân miền Bắc chung sức, chung lòng vừa chiến đấu vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội với tinh thần "tất cả cho tiền tuyến tất cả để chiến thắng" và "mỗi người làm việc bằng hai vì đồng bào miền nam ruột thịt", "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Kết quả:
Trong nông nghiệp: Hai ngành sản xuất phát triển mạnh nhất là chăn nuôi và trồng trọt; diện tích canh tác được mở rộng, năng suất lao động không ngừng tăng lên: năm 1965, miền Bắc chỉ có 7 huyện và 640 hợp tác xã đạt mức sản lượng 5 tấn/ha/năm đến năm 1967 tăng lên 30 huyện và 2.628 hợp tác xã đạt đến mức sản lượng trên. Tỉnh Thái Bình, huyện Thanh Trì (Hà Nội), huyện Đan Phượng (Hà Tây) trở thành “quê hương 5 tấn” đầu tiên.
Trong công nghiệp: Các cơ sở sản xuất lớn sau khi sơ tán, phân tán đã dần dần đi vào sản xuất ổn định trở lại, đảm bảo cung cấp, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của sản xuất, chiến đấu và đời sống.
Công nghiệp quốc phòng được tăng cường và đặc biệt công nghiệp địa phương phát triển rất mạnh.
Trong giao thông vận tải: Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mĩ đã tàn phá nghiêm trọng hệ thống giao thông của miền Bắc. Nhân dân miền Bắc đã bất chấp bom đạn, ra sức khôi phục và bảo vệ các mạch máu giao thông của miền Bắc và hệ thống đường vận tải chiến lược Bắc – Nam. Miền Bắc còn đầu tư nâng cấp các tuyến đường huyết mạch chi viện cho miền Nam và đầu tư các phương tiện cơ giới, đáp ứng nhu cầu vận tải phục vụ công tác chi viện cho miền Nam.
Trong lĩnh vực tài chính - thương mại: đảm bảo được việc cung ứng vốn, hàng hóa phục vụ cho việc phát triển kinh tế thời chiến và yêu cầu chiến đấu chống kẻ thù.
Trong văn hóa, giáo dục và y tế: Mặc dù đang trong hoàn cảnh chiến tranh, nền giáo dục vấn tiếp tục phát triển, đặc biệt là giáo dục đại học, số sinh viên tăng gấp 3 lần so với trước chiến tranh phá hoại; số cán bộ có trình độ đại học năm 1965 là 20.000, đến năm 1969, con số này lến đến 40.000 người.[37: 193]
Các ngành văn hóa, nghệ thuật hoạt động sôi nổi phục vụ cho quần chúng, y tế đã có những thành tựu mới về chuyên môn …
Sau 4 năm thực hiện chủ trương chuyển hướng nền kinh tế sang thời chiến, mỗi tỉnh trở thành một đơn vị kinh tế tương đối hoàn chỉnh, có thể tự túc, tự cấp đến mức cao nhất, đảm bảo hậu cần cho cuộc chiến đấu tại chỗ và đời sống nhân dân.
Những thành quả trên còn là một nguồn lực đánh kể giúp cho miền Bắc làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với miền Nam. Tính chung sức người, sức của từ miền Bắc chi viện cho miền Nam trong 4 năm (1965 - 1968) tăng gấp 10 lần so với thời kỳ trước: hơn 30 vạn cán bộ, bộ đội, hàng chục vạn tấn vật chất, vũ khí đạn dược, quân trạng, quân dụng, xăng dầu, thuốc men …
Sự chi viện to lớn đó đã góp phần quyết định thắng lợi của quân dân ta ở miền Nam trong cuộc chiến đấu chống “chiến tranh cục bộ” của Mĩ - Ngụy.

BÀI TẬP
1. Âm mưu, thủ đoạn của Mĩ trong "Chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968)? Quân dân ta ở miền Nam đã chiến đấu chống lại và giành thắng lợi như thế nào?
2. Mĩ mở rộng chiến tranh không quân phá hoại miền Bắc trong hai lần (5/8/1964 đến 1/11/1968 và 6/4/1972 đến 15/1/1973) nhằm thực hiện âm mưu và dùng thủ đoạn gì? Quân dân ta ở miền Bắc đã chiến đấu chống lại và giành thắng lợi như thế nào?
3. Những điểm giống và khác nhau giữa chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961 - 1965) và chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968) của đế quốc Mĩ ở miền Nam Việt Nam?


[1] Việc tiến hành ở miền Nam Việt Nam một cuộc chiến tranh kiểu chiến tranh cục bộ ở Triều Tiên (1950 - 1953) là ngoài ý muốn của Mĩ. Bởi lẽ kiểu chiến tranh “lộ mặt” này sẽ mâu thuẫn với chủ nghĩa thực dân mới của chúng ở miền Nam. Hơn nữa, việc đưa quân Mĩ trực tiếp tham chiến tại miền Nam và ném bom miền Bắc có thể gây những phản ứng của Liên Xô và Trung Quốc (như kinh nghiệm chiến tranh triều Tiên). Đây chính là điều mà chính quyền Mĩ lo ngại nhất.
Tuy nhiên, Nhà Trắng đã được Cục tình báo trung ương Mĩ giải tỏa khi họ cho rằng, chính sách của những người lãnh đạo Liên Xô đối với Việt Nam trong một vài năm tới vẫn còn giới hạn. Còn Trung Quốc lúc này đang làm cuộc cách mạng văn hóa vô sản, cho nên “Trung Quốc sẽ không phản ứng theo bất kì cách nào đối chiến dịch ném bom , trừ khi quân Mĩ hoặc Nam Việt Nam xâm lược miền Bắc Việt Nam hoặc miền Bắc Lào… phản ứng của Trung Quốc đối với việc ném bom có hệ thống miền Bắc chắc sẽ có giới hạn”. Vì vậy, tháng 12/1964, tổng thống Giôn – xơn quyết định thay thế “chiến trănh đặc biệt” bằng “chiến tranh cục bộ”. (Trần Bá Đệ (chủ biên), Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945 - 1975), Nxb ĐHSP, HN, 2007, trang 167).
[2] Khí hậu miền Nam thường có 2 mùa trong năm: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (theo dương lịch).
[3] Ngay từ khi các cánh quân của địch đổ xuống Vạn Tường, các khẩu đội súng cối  và  60mm của Trung đoàn 1 bắn cấp tập vào bãi đỗ quân của địch. Quân Mĩ dùng pháo hạm và máy bay bắn phá, ngăn chặn ta, yểm trợ cho quân Mĩ đổ bộ lần thứ hai, nhưng quân ta vận động tiến công vào đội hình của địch. Bị đánh dữ dội, quân Mĩ hỗn loạn, chúng không còn kiểm soát được chiến trường. Địch cho quân tiếp viện cũng bị quân ta phục kích tiêu diệt gần hết. Địch từ chỗ chủ động chuyển sang bị động, chống đỡ lúng túng. Pháo hạm của Mĩ vẫn tiếp tục pháo kích dữ dội hòng làm giảm áp lực của ta và dùng máy bay lên thẳng chở lực lượng dự bị từ hạm đội đậu ngoài khơi đổ xuống Vạn Tường ứng cứu. Ta từ chỗ bất ngờ đã giành được thế chủ động tiến công và trận chiến đã tiếp tục cho đến khi màn đêm buông xuống (Nguyễn Bá Đệ (Chủ biên) (2007), Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945 – 1975, Nxb ĐHSP, Hà Nội, trang 174).
[4] Hướng Tây Bắc Sài Gòn gồm: Củ Chi, Bến Cát, chiến khu Đ, Chiến khu Dương Minh Châu (còn gọi là chiến khu C). Trên hướng này, địch đặt ra mục tiêu diệt sư đoàn 9 chủ lực Miền và phá căn cứ kháng chiến của cách mạng. Hướng Đông Sài Gòn: từ sông Đồng Nai đến Bà Rịa. Trên hướng này, địch muốn bảo vệ đường 15, sông Lòng Tàu và căn cứ quân sự Biên Hòa. Hướng Nam Phú Yên. Hướng Bắc Bình Định và hướng Nam Quảng Ngãi.

Chương 2: Lịch sử Việt Nam 1965 - 1973

Chương 1: Lịch sử Việt Nam 1954 - 1965

CHƯƠNG 1

MIỀN BẮC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ - XÃ HỘI, MIỀN NAM ĐẤU TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ MĨ - DIỆM (1954 - 1960)

1. Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơ - ne - vơ và nhiệm vụ cách mạng trong thời kì mới
1.1. Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơ - ne - vơ

1.1.1. Miền Bắc

Sau khi Hiệp định Giơ - ne - vơ được kí kết, thực dân Pháp cố tình trì hoãn rút quân. Ta đã đấu tranh buộc quân Pháp phải rút khỏi Hà Nội vào ngày 10 tháng 10 năm 1954. Đến ngày 22/5/1955, quân Pháp hoàn toàn rút khỏi miền Bắc nước ta.
Tuy nhiên, trong khi rút quân, thực dân Pháp đã tìm cách gây khó khăn và phá hoại việc thi hành hiệp định: chúng đã phá hoại cơ sở hạ tầng kinh tế ở miền Bắc, đồng thời chúng cùng với Mĩ – Diệm dụ dỗ, cưỡng bức gần một triệu đồng bào Công giáo vào miền Nam.
Ngày 01/01/1955, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về Hà Nội. Nhân dân miền Bắc đã tổ chức một cuộc Mitting trọng thể chào mừng sự kiện trọng đại này.
1.1.2. Miền Nam
Theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ, ở khu vực Trung Nam bộ, lực lượng cách mạng sẽ tập kết tại Cao Lãnh và chuyển ra miền Bắc trong thời hạn 100 ngày; (Ở khu vực Tây Nam bộ, lực lượng cách mạng tập trung kết tại Cà Mau và di chuyển ra miền Bắc trong vòng 200 ngày; ở Đông Nam bộ, địa điểm tập kết là Hàm Tân (nay thuộc Tỉnh Bình Thuận) và Xuyên Mộc (nay thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) với thời hạn 80 ngày). Chúng ta thực hiện nghiêm chỉnh việc đình chiến, tập kết, chuyển quân và chuyển giao khu vực.
Trước khi Hiệp định được kí kết, Mĩ đã ép Pháp phải đưa tay sai của Mĩ là Ngô Đình Diệm vào chính phủ Bảo Đại. Hai ngày sau khi hiệp định được kí kết, ngoại trưởng Mĩ đã tuyên bố can thiệp vào miền Nam Việt Nam để “ngăn chặn sự bành trướng của Chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á”.

Ngày 14 tháng 5 năm 1956, Chính phủ Pháp thông báo sẽ rút hết quân viễn chinh ở miền Nam về nước. Chúng trút bỏ trách nhiệm thi hành nhiều điều khoản còn lại của hiệp định, trong đó có việc tổ chức tổng tuyển cử ở hai miền Nam Bắc cho chính quyền Ngô Đình Diệm.

=> Miền Nam rơi vào tay đế quốc Mĩ và chính quyền tay sai.
 1.2. Nhiệm vụ cách mạng ở hai miền Nam - Bắc

Những âm mưu của Mĩ – Diệm ở miền Nam đã đưa đất nước đứng trước nguy cơ bị chia cắt lâu dài; miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, miền Nam rơi vào tay đế quốc Mĩ. Trước tình thế đó, Đảng ta đã đề ra hai nhiệm vụ cách mạng khác nhau cho hai miền:

Miền Bắc: chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm hoàn thành cải cách ruộng đất, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế… xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước và hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Miền Nam: Tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chống lại chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mĩ, tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Hai nhiệm vụ trên tuy khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích chung là đánh đổ đế quốc Mĩ và tay sai của chúng để đi đến thống nhất đất nước. Trong đó, miền Bắc giữ vai trò là hậu phương, đảm bảo cho sự thắng lợi của toàn cuộc cách mạng; miền Nam là tiền tuyến trực tiếp đương đầu với đế quốc Mĩ và tay sai.
2. Miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa (1954 – 1960)
2.1. Thực trạng kinh tế - xã hội miền Bắc sau năm 1954
Theo hiệp định Giơnevơ, thực dân Pháp có 300 ngày để tập kết và di chuyển quân ra khỏi miền Bắc nước ta. Trong quá trình chuyển quân, chúng đã phối hợp với đế quốc Mĩ và tay sai ra sức phá hoại miền Bắc:
Xuyên tạc và bịa đặt rằng: "Chính phủ Việt minh cấm đạo”, "Chúa đã vào Nam" để dụ dỗ và cưỡng bức gần 1 triệu đồng bào công giáo di cư vào miền Nam.
Phá hoại, di chuyển các tài sản, vật tư, máy móc, đốt hoặc mang theo những tài liệu, hồ sơ, đóng cửa các nhà máy, hãng buôn, trường học nhằm gây khó khăn cho ta sau này.
Cài lại gián điệp gây ra những vụ phá rối trật tự, trị an ở Bùi Chu (Nam Định), Phát Diệm (Ninh Bình), Ba Làng (Thanh Hoá), Diễn Châu (Nghệ An), Chiềng Nội (Hoà Bình), Pu Nhí (Thanh Hoá),…
Cho nổ mìn phá hoại các công trình công cộng, di tích lịch sử, văn hoá như: Chùa Một Cột, cầu Phủ Lạng Thương (Bắc Giang), nhà máy điện Uông Bí,..)
Trước những âm mưu trên của kẻ thù, nhân dân miền Bắc, nhất là nhân dân những vùng sắp tiếp quản đã tiến hành các cuộc đấu tranh quyết liệt để bảo vệ trật tự, an ninh, bảo vệ máy móc, tài sản, chống cưỡng ép đồng bào di cư…
Tại Hà Nội, trong 80 ngày tập kết chuyển quân của Pháp, chính quyền cách mạng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân thủ đô đấu tranh chống lại các hoạt động phá hoại của địch như: công nhân nhà máy điện Yên Phụ, Bờ Hồ, nhà máy nước, nhà máy xe lửa Gia Lâm, ga Hàng Cỏ… đấu tranh giữ máy móc, thiết bị, bảo đảm điện nước phục vụ nhân dân; nhân viên công chức các công sở, trường học, bệnh viện tìm đủ mọi cách để giấu thuốc men, tài liệu, không cho địch đốt, phá, mang đi.
Tại Hải Phòng và Quảng Ninh - vùng 300 ngày chuyển quân, các tầng lớp nhân dân đã đấu tranh quyết liệt chống lại những hành động phá hoại của địch, tiêu biểu như cuộc đấu tranh chống tháo dỡ nhà máy nước Hải Phòng, cuộc đấu tranh chống tháo dỡ thiết bị mỏ than Hồng Gai….
Hàng ngàn cán bộ Đảng viên đã vận động quần chúng chống lại sự cưỡng bức di cư của kẻ thù, kết quả là hàng vạn đồng bào chuẩn bị ra đi và hàng ngàn người đã ra đi đã nhận ra âm mưu của địch nên đấu tranh đòi quay trở lại.
Nhờ có những biện pháp đấu tranh quyết liệt và có hiệu quả, công tác tiếp quản miền Bắc diễn ra một cách tốt đẹp:
Từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 8/1954, ta tiếp quản xong các vùng nông thôn.
Ngày 10/10/1954, Thủ đô Hà Nội được hoàn toàn giải phóng; ngày 01/01/1955 hàng vạn người dân thủ đô Hà Nội tiến hành cuộc mitting tại Ba Đình chào đón Bác và Trung ương trở về thủ đô Hà Nội.
Ngày 13/5/1955, Hải Phòng giải phóng, đến 16/5/1955 tên lính viễn chinh cuối cùng của thực dân Pháp đã rút khỏi miền Bắc nước ta (Cát Bà) đánh dấu sự giải phóng hoàn toàn của miền Bắc nước ta.
Cùng với công tác tiếp quản, chính quyền cách mạng còn lo đón tiếp và bố trí công việc, học tập cho 120.000 cán bộ, bộ đội và đồng bào miền Nam tập kết, tiếp nhận hơn 60.000 cán bộ, quân nhân và đồng bào yêu nước bị Pháp bắt trong kháng chiến, trao trả cho ta và trao trả cho Pháp hơn 9.000 tù binh do ta bắt giữ. Mặt khác ta còn giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn binh lính ngụy và nhân viên chính quyền cũ để ổn định xã hội…
Nền kinh tế miền Bắc vô cùng khó khăn sau chiến tranh:
Nông nghiệp: bị thiệt hại nặng nề: 1.430.000 ha đất bị bỏ hoang ở 8 công trình thủy nông lớn và nhiều công trình nhỏ bị phá hủy; phần lớn ruộng đất làm một vụ, năng suất thấp, kỹ thuật thô sơ ….
Công nghiệp: Phần lớn nhà máy, xí nghiệp không hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng; nguyên nhiên liệu, máy móc thiếu nghiêm trọng
Giao thông vận tải: chỉ có hơn 100km đường sắt Hà Nội - Hải Phòng còn hoạt động, 3500 cầu cống bị phá hủy, phương tiện vận tải thiếu thốn …
Thương nghiệp: bị đình đốn, nạn đầu cơ, nâng giá diễn ra phổ biến, hàng hóa khan hiếm, tiền tệ chưa thống nhất …
Văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế: Hàng triệu người mù chữ nạn đói tràn lan, thất nghiệp, y tế lạc hậu, dịch bệnh nhiều và hoành hành khắp nơi.
Thực tế trên đang đặt ra cho Đảng và nhà nước những thách thức lớn sau khi tiếp quản miền Bắc.
2.2. Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế (1954 - 1957)
Sau khi miền Bắc được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành cải tạo ruộng đất. Theo quan điểm của Đảng lúc này thì: "có đẩy mạnh cải cách ruộng đất mới đoàn kết được lại đa số nhân dân, cũng cố được công - nông liên minh, cũng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, mới có thể khôi phục kinh tế một cách nhanh chóng và có thêm điều kiện tăng cường quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng"[12: 210].
Cải cách ruộng đất được Đảng và Nhà nước ta tiến hành từ cuối năm 1953 bằng đợt thí điểm đầu tiên ở 6 xã thuộc Đại từ - Thái Nguyên.
Công cuộc cải cách ruộng đất được đẩy mạnh nhằm chia ruộng đất cho nông dân và xóa bỏ sở hữu ruộng đất của địa chủ. Tính từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, ta đã tiến hành 5 đợt cải cách:
Đợt 1: Từ 25/12/1953 đến 30/3/1954: làm thí điểm ở xã thuộc huyện Đại Từ Thái Nguyên
Đợt 2: Từ 23/10/1954 đến 15/1/1955 ở 210 xã thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang Thanh Hóa.
Đợt 3: Từ 18/2/1955 đến 20/6/1955 ở 466 xã thuộc các tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Thanh Hóa, Nghệ An.
Đợt 4: Từ 27/6 đến 31/12/1955 ở 859 xã thuộc tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Đợt 5: Từ 25/12/1955 đến 30/7/1956 ở 1.720 xã thuộc 20 tỉnh và 2 thành phố Hà Nội và Hải Phòng, trong đợt 5, ta đã tịch thu, trưng thu, trưng mua của địa chủ 334.000 ha ruộng đất và chia cho nông dân.
Kết quả của 5 đợt cải cách như sau: ta đã tịch thu, trưng thu, trưng mua 810.000 ha ruộng đất, 106.448 trâu bò, 148.565 ngôi nhà và 1.846.000 nông cụ các loại do giai cấp địa chủ chiếm giữ chia cho 2.104.138 hộ nông dân lao động (chiếm khoảng 72,8% số hộ ở nông thôn miền Bắc).[43: 136] Thắng lợi này đã tạo tiền đề cho sự củng cố và phát triển của miền Bắc về mọi mặt.
Tuy nhiên, đợt cải cách ruộng đất thứ 5 sắp kết thúc, nhiều đơn, thư kêu oan của những cán bộ cách mạng bị qui sai đã đến Trung ương và Bác Hồ, giúp cho Đảng nhận ra được những sai lầm trong quá trình thực hiện cải cách. Ngay lập tức, Đảng đã chỉ thị phải sửa chữa sai lầm; ngày 18/8/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gởi thư tới đồng bào nông thôn và cán bộ Đảng viên nêu rõ những thắng lợi to lớn của cải cách ruộng đất và những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình thực hiện.
Những sai lầm trên đã gây tổn thất lớn cho nhân dân và hạn chế thành quả của cải cách. Văn kiện Đảng viết "đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt,... những sai lầm đó không những đã hạn chế những thắng lợi đã thu được, mà lại gây ra những tổn thất rất lớn cho cơ sở của Đảng, của chính quyền, của các tổ chức quần chúng, ảnh hưởng tai hại đến chính sách, mặt trận của Đảng ở nông thôn cũng như ở thành thị, ảnh hưởng nhiều đến tình cảm và đời sống bình thường của nhân dân ta, làm cho tình hình nông thôn căng thẳng, ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết[13: 439,440].
Nguyên nhân sâu xa của những sai lầm trên là do không nắm vững vấn đề dân tộc và giai cấp ở nước ta, áp dụng máy móc kinh nghiệm nước ngoài vào Việt Nam một cách đơn giản.
Để khắc phục những hậu quả trên, Hội nghị lần thứ 10 của Trung ương Đảng (9/1956) đã chủ trương: "kiên quyết sửa chữa những sai làm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, phát huy những kết quả và thắng lợi đã thu được … Nhặm đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân…"[13: 558] và đã đề ra một loạt các biện pháp như khôi phục danh dự, quyền lợi cho những người bị xử oan, thi hành kỷ luật một số cán bộ có trách nhiệm…
Với thái độ nghiêm khắc, tích cực và thận trọng, đến cuối năm 1957, việc sửa sai cơ bản đã hoàn thành; trong số 63.113 hộ bị quy là địa chủ trong cải cách ruộng đất ở đồng bằng và trung du Bắc bộ có 31.844 hộ đã được sửa sai, không bị qui là địa chủ nữa; hay ở khu tự trị Việt Bắc, trong 2245 hộ bị quy là địa chủ có 1861 hộ được sửa sai. Công tác sửa sai đã dần dần củng cố được lòng tin của nhân dân đối với Đảng, làm ổn định chính trị, giữ vững được trật tự, trị an, củng cố khối đoàn kết toàn dân.
Bên cạnh việc thực hiện những nhiệm vụ trên, Đảng và nhà nước còn đứng trước một thực trạng về kinh tế vô cùng khó khăn sau chiến tranh. Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã chủ trương tập trung mọi nỗ lực để hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, ổn định và bước đầu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân:
Thứ nhất, nông nghiệp được coi là lĩnh vực then chốt cần được phục hồi và phát triển. Nhân dân đã khôi phục sản xuất trên những vùng đất bỏ hoang, củng cố hệ thống thủy nông, đê điều, đẩy mạnh sản xuất phân bón, gầy dựng lại số trâu bò bị thiệt hại trong chiến tranh, cải tiến nông cụ, phương thức canh tác …
Đến năm 1956, miền Bắc sản xuất hơn 4 triệu tấn lương thực (Năm 1939 là 2,5 triệu tấn đến năm 1957, 125.000/144.300 ha ruộng hoang đã được sản xuất trở lại, 8 hệ thống thủy nông lớn được khôi phục … nạn đói giáp hạt được đẩy lùi.
Thứ hai, trong công nghiệp, ta đã khôi phục được 29 xí nghiệp cũ, xây mới 55 xí nghiệp mà chủ yếu là trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng.
Kết quả: giá trị tổng sản lượng công nghiệp quốc doanh tăng từ 28 tỷ đồng năm 1955 lên 232 tỉ đồng năm 1957.
Thứ ba, về giao thông vận tải: nhà nước đã đầu tư khá lớn cho lĩnh vực giao thông vận tải và bưu điện: Năm 1954 dành 54.4% tổng số vốn đầu tư cho xây dựng và kiến thiết cơ bản, năm 1956 giảm xuống 28.4%, đến 1957 là 20.9%.
Nhờ được đầu tư lớn, giao thông vận tải được khôi phục nhanh chóng: khôi phục 657km đường sắt, 168 cầu cống trong 3 năm từ 1955 đến 1957; đường bộ khôi phục được 1624 km, sửa chữa lớn 1.660km, làm mới 600km đường trục chính …
Thứ tư, về thương nghiệp nhà nước đẩy mạnh phát triển mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán; ngoại thương đúng nghĩa kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập đến thời điểm này.
Thứ năm, các ngành văn hóa, giáo dục, y tế phát triển nhanh chóng:
Từ năm 1955 đến 1957, miền Bắc có hơn 1 triệu người thoát nạn mù chữ, số người được bổ túc văn hóa cấp 1 và cấp 2 tăng nhanh; năm học 1956 - 1957, miền Bắc có 606.000 học sinh vỡ lòng, 952.000 học sinh phổ thông, 3.664 sinh viên. [28: 144]
Năm 1957, miền Bắc có 55 bệnh viện, 13 viện điều dưỡng, 85 bệnh xá, 19.700 giường bệnh, 362 nhà hộ sinh, 5130 ban phòng bệnh, nhiều bệnh xã hội, truyền nhiễm bị đẩy lùi. [28: 144]
Tàn dư văn hóa tư sản, phong kiến lạc hậu từng bước bị đẩy lùi, những thói hư, tật xấu, mê tín dị đoan trong xã hội được dẹp bỏ.
Ngoài ra Đảng ta chỉnh đốn và dẹp yên những tư tưởng lệch lạc của nhóm "nhân văn", “giai phẩm”, ổn định tình hình chính trị tư tưởng của miền Bắc.
Đánh giá những kết quả đạt được sau ba năm khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "nhân dân ta ở miền bắc đã ra sức khắc phục khó khăn lao động sản xuất, thu được những thành tựu to lớn trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bước đầu phát triển văn hóa, giảm bớt khó khăn và dần dần cải thiện đời sống nhân dân …”[20: 483].
2.3. Cải tạo chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hoá (1958 - 1960)
Những thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế đã cho phép miền Bắc bước sang một thời kỳ mới - thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong thư chúc mừng năm mới ngày 01/01/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Thời kỳ khôi phục kinh tế đã kết thúc và mở đầu thời kỳ phát triển kinh tế một cách có kế hoạch. Đó là tiến bộ mới trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta… phát triển kinh tế, văn hóa, tức là dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội"[21: 03]
Tháng 11/1958, Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân miền Bắc thực hiện kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa (1958 - 1960) và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh. Đồng thời song song với cải tạo là ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh làm lực lượng lãnh đạo nền kinh tế quốc dân.
Với quyết tâm cao, nhân miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Trong cải tạo nông nghiệp: Mùa thu năm 1958, ta tiến hành đợt thí điểm đầu tiên về hợp tác hóa nông nghiệp. Trong đợt thí điểm, miền Bắc đã xây được 134 hợp tác xã. Đến cuối năm 1958, số lượng hợp tác xã tăng lên 4.721 và tháng 11/1960 là 41.401 hợp tác xã với 85% tổng số hộ và 76% diện tích đất canh tác.
Đây là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng đối với nông thôn và nông dân miền Bắc. Nó tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển, đảm bảo lương thực, thực phẩm cho miền Bắc và chi viện cho miền Nam.
Trong cải tạo công, thương nghiệp tư bản tư doanh: Do giai cấp tư sản miền Bắc có số lượng ít, tiềm lực yếu và đa số là đồng minh của cách mạng, nên cuộc cải tạo diễn ra bằng biện pháp hòa bình; nhà nước chủ trương mua lại, chuộc lại tư liệu sản xuất của tư sản và trả dần tiền chuộc cho họ, đưa các nhà tư sản vào làm việc trong các công ty mới của nhà nước để cải tạo họ thành người lao động.
Trong 3 năm (1958 - 1960), 783 hộ tư sản công nghiệp (100%) 826 hộ tư sản thương nghiệp (chiếm 97.1%) và 319 hộ tư sản vận tải cơ giới (99%) đã được cải tạo.[9: 143]
Tất cả các cơ sở công thương sau khi cải tạo được tổ chức thành các xí nghiệp công thương hợp doanh, hợp tác…, xóa bỏ sự bóc lột của tư bản, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển trong điều kiện có chiến tranh.
Tuy nhiên, trong quá trình cải tạo, ta đã phạm phải sai lầm ở chỗ là đã xóa bỏ các thành phần kinh tế cá thể, xóa bỏ tư hữu, làm mất đi tính năng động, đa dạng của nền kinh tế nhiều thành phần.
Trong cải tạo thủ công nghiệp và những người buuôn bán nhỏ: toàn miền Bắc đã đưa 81% thợ thủ công vào các hình thức hợp tác xã, 60% số người buôn bán nhỏ được cải tạo tham gia vào các tổ hợp mua bán hoặc các hợp tác xã mua bán.
Song song với công tác cải tạo, Đảng và nhà nước ta cũng tiến hành phát triển kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế quốc doanh:
Trong công nghiệp: Giai đoạn 1958 – 1960, tổng số ngân sách đầu tư cho công nghiệp tăng gấp 3 lần so với giai đoạn 1955 – 1957 (từ 172,2 triệu đồng lên 544,5 triệu đồng).
Kết quả: ta đã xây dựng và mở rộng 130 công trình công nghiệp trên hạn ngạch, đến năm 1960, có 172 xí nghiệp do Trung ương quản lí và trên 500 xí nghiệp do các địa phương quản lí. Giá trị sản phẩm công nghiệp miền Bắc chiếm 41% tổng giá trị kinh tế quốc dân, trong đó công nghiệp quốc doanh chiếm 90,8% sản lượng công nghiệp.
Trong nông nghiệp: Năm 1957, miền Bắc có 16 nông trường quốc doanh, đến năm 1960 tăng lên 59 nông trường. Vốn đầu tư cho nông nghiệp giai đoạn này tăng gấp đôi so với giai đoạn 1955 - 1957. Nhờ vậy, tổng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân 5,6%/ năm
Trong xây dựng cơ bản: Nhiều công trình quan trọng đã được xây dựng như: nhà máy điện vinh, Lào Cai, nhà máy sứ Hải Dương; cao su, thuốc lá ở Hà Nội, các công trình thủy lợi …
Về văn hóa, giáo dục, y tế: Đến năm 1960, số học sinh phổ thông tăng gấp 2 lần, số học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 4 lần, đại học tăng 4 lần với 9 trường đại học và 11.000 sinh viên, nâng tỷ lệ người học/100 dân lên mức 18/100.
Số bệnh viện, bệnh xá, trạm xá, cơ sở hộ sinh tăng gấp 11 lần, số giường bệnh tăng gấp đôi so với trước.
Đồng thời với nhiệm vụ khôi phục, cải tạo, phát triển, văn hóa, Đảng và Nhà nước còn quan tâm đến việc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng để biến miền Bắc trở thành một hậu phương lớn, vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.
Có thể nói, những kết quả của quá trình cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn 1958 - 1960 đã thật sự tạo nên những chuyển biến to lớn ở miền Bắc nước ta. Thắng lợi đó đã được thể hiện rõ trong bản Hiến pháp năm 1960 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đây chính là những cơ sở vững chắc để miền Bắc trở thành hậu phương lớn cho cách mạng miền Nam.
3. Miền Nam đấu tranh chống Mĩ – Diệm, giữ gìn và xây dựng lực lượng tiến tới Đồng Khởi (1954 - 1960)
3.1. Chủ trương chiến lược của Đảng đối với cách mạng miền Nam trong giai đoạn từ 1954 đến 1959
Trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng - diễn ra từ 15 đến 17 tháng 7 năm 1954 – đã nhận định rằng: “Đế quốc Mĩ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hòa bình ở Đông Dương”[11: 225]. Từ đó, Đảng đã đề ra phương châm, sách lược đấu tranh mới của cách mạng Việt Nam là: “Chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mĩ và Pháp hiếu chiến, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện hòa bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mĩ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, củng cố hòa bình và thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trên toàn quốc”[11: 227]
Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết (20/7/1954), miền Bắc hoàn toàn giải phóng và chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa; còn ở miền Nam, nhân dân ta đã chấp hành nghiêm chỉnh những thỏa thuận đã kí kết; lực lượng cách mạng miền Nam đã tập kết và rút về miền Bắc đúng thời hạn, tạm bàn giao miền Nam lại cho quân đội Liên hiệp Pháp để chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào tháng 7 năm 1956. Trước những âm mưu và hành động của Mĩ – Diệm, nhân dân, Đảng và Bác Hồ đã nhận thấy được những khó khăn của miền Nam sau Hiệp định:
Ngày 22 tháng 7 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi, trong đó xác định: “đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân tộc cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ”[8: 403]
Nhiều đồng bào, cán bộ và chiến sĩ khi tập kết ra miền Bắc không khỏi băn khoăn và linh cảm về một tương lai gian khó của cách mạng miền Nam. Bác cũng thấy được tâm tư, lo lắng đó của anh em, đồng bào miền Nam và Người nói: “Có người hỏi rằng: Nếu bọn Mĩ Diệm cứ ì ra thì thế nào? Câu trả lời là: bản chất của hòn đá là cứ ì ra không nhúc nhích. Nhưng khi có nhiều người đồng tâm, hiệp lực mà xô đẩy thì dù tảng đá to mấy, nặng mấy cũng phải lăn”.[23: 173]
Mặc dù vậy, ngày 22 tháng 7 năm 1954, Bộ tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra lệnh cho lực lượng vũ trang ở Bắc bộ ngừng bắn vào ngày 27/7/1954, Trung bộ vào ngày 01/8/1954 và Nam bộ vào ngày 11/8/1954 nhằm thực hiện những cam kết của ta hiệp định.
Trong khi ta tích cực thực hiện hiệp định thì phía Pháp và Mĩ lại đang tích cực củng cố chính quyền thân Mĩ, chuẩn bị cho việc chia cắt lâu dài Việt Nam.
Trước sự chuyển biến của tình hình như trên, ngày 05 tháng 9 năm 1954, Bộ chính trị đã họp và ra nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách của Đảng; trong đó xác định nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn hiện tại là: “lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu trang thực hiện hiệp định đình chiến, củng cố hòa bình, thực hiện tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập”.[18; 48]
Phương châm đấu tranh của cách mạng miền Nam lúc này cũng được Bộ Chính trị xác định là: “Tranh thủ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp, kết hợp công tác hợp pháp với công tác không hợp pháp. Đối với các tổ chức quần chúng và tổ chức Đảng thì cố tranh thủ cho được tồn tại hợp pháp và hoạt động hợp pháp. Hình thức đấu tranh kịch liệt (như khởi nghĩa và chiến tranh du kích) cần đình chỉ ngay; những hình thức như biểu tình, đình công, bãi khóa, bãi thị,… cũng cần sử dụng một cách thận trọng và phải tiến hành trên nguyên tắc có lí, có lợi, có mức, đừng để bọn phản động khiêu khích và tạo cơ hội cho bọn thực dân Pháp phá hoại đình chiến và ngụy quyền khủng bố”[11: 310].
Ngày 19 tháng 12 năm 1954, Bác viết thư kêu gọi đồng bào ta, tiếp tục thể hiện sự tin tưởng vào khả năng hòa bình để thống nhất đất nước; Người viết: “Chúng ta đã đoàn kết, cảnh giác và tin tưởng, cho nên chúng ta đã thắng lợi trong kháng chiến. Thì nay, chúng ta phải đoàn kết rộng rãi đồng bào cả nước, và đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình toàn thế giới, nâng cao chí khí đấu tranh và tinh thần cảnh giác hơn nữa, tin tưởng hơn nữa vào lực lượng mạnh mẽ và tiền đồ vẽ vang của dân tộc ta. Như vậy, chúng ta nhất định thắng lợi trong công cuộc củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta”[23: 169].
Chủ trương “chuyển từ cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp trước đó sang đấu tranh chính trị chống Mĩ Diệm, đòi chúng thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ để củng cố hoà bình, giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng”[17: 129] của Trung ương Đảng đã được giữ nguyên trong một thời gian dài (đến 1958) mặc dù thực tiễn Cách mạng ở miền Nam đã có những biến động rất lớn.
Không chỉ dừng lại ở mặt chủ trương mà ngay cả trong thực tế, năm 1958, Trung ương đã tiến hành sắp xếp biên chế trong quân đội: “giảm 8 vạn quân, trong đó bộ đội miền Nam ở khu V, Nam bộ tập kết nhiều trung đoàn, tiểu đoàn đánh giỏi, có uy tín trong nhân dân, quen thuộc địa hình chiến trường đã bị đưa về các nông trường quân đội làm kinh tế; trong khi miền Nam đang cần họ”.[18: 53]
Một câu hỏi được đặt ra đối với quá trình chỉ đạo chiến lược cách mạng ở miền Nam của Đảng trong giai đoạn 1954 - 1959 là Đảng và Bác không phải không nhận ra những âm mưu của Mĩ - Diệm, những khó khăn của Cách mạng miền Nam. Nhưng tại sao Bộ Chính trị lại đưa ra chủ trương chiến lược chỉ đạo cách mạng miền Nam thiếu quyết liệt trong một thời gian dài như vậy?
Đây là một vấn đề được các nhà nghiên cứu đặt ra trong thời gian gần đây. Chúng tôi xin được dẫn ra một số tư liệu liên quan để góp phần làm rõ vấn đề này:
Trong cuốn Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 11, các tác giả đã viết như sau: “… trong bối cảnh phe xã hội chủ nghĩa xuất hiện những bất hòa dẫn đến mâu thuẫn về đường lối ngày càng sâu sắc - nhất là hai nước lớn Liên Xô và Trung Quốc. Tuy Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đều thống nhất chống Mĩ, ủng hộ Việt Nam, nhưng đường lối đấu tranh, phương pháp cách mạng của Liên Xô, Trung Quốc và một số nước xã hội chủ nghĩa khác không thống nhất đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng ta. Các Đảng và các nước anh em - nhất là hai nước lớn - muốn giữ cách mạng trong thế duy trì đường lối "chung sống hòa bình"[1] giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau. Tình hình đó đã tác động không nhỏ đến cuộc kháng chiến của nhân dân ta, làm cho ta vừa có thuận lợi lại vừa có khó khăn”[18: 10].
Trong lời căn dặn các đồng chí Xứ ủy Nam bộ và Liên khu V sau khi dự Hội nghị lần thứ 15 đợt 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói rằng: “Qua chiến tranh Triều Tiên năm 1950, nhiều Đảng anh em khuyên ta “trường kì mai phục” hoặc “thi đua hoà bình”2. Họ lo ngại đấu tranh vũ trang ở miền Nam và cho rằng “một đốm lửa” của chiến tranh miền Nam có thể “thiêu cháy cả một khu rừng”, lan rộng thành chiến tranh khu vực hoặc thế giới”. (Phát biểu của Đồng chí Phạm Văn Xô. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng [Dẫn lại: 29; 9,10])
Sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự Thật, Hà Nội năm 1979 đã đề cập ít nhiều đến vấn đề khuyên chúng ta “trường kì mai phục” trong trong cuộc kháng chiến chống Mĩ giai đoạn 1954 – 1960 mà Bác đã nói đến ở trên như sau:
Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc - Đặng Tiểu Bình đã nói với ta rằng: “Dùng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”[4: 39]; đến tháng 11 năm 1956, Mao Trạch Đông lại nói rằng: “tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong thời gian ngắn mà cần phải trường kì…nếu 10 năm chưa được thì phải một trăm năm”[4: 39] và tháng 7 năm 1957, Mao Chủ tịch lại nói: “phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17. Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt”[4: 40]. Thậm chí, đến tháng 5/1960, phía Trung Quốc còn nói rằng: “miền Bắc có thể ủng hộ chính trị cho miền Nam, giúp miền Nam đề ra các chính sách, nhưng chủ yếu là bồi dưỡng tình thần tự lực cánh sinh cho anh em miền Nam… có thể cung cấp một số vũ trang cho miền Nam mà không ai biết. Nhưng nói chung là không giúp”[4: 40].
Cuộc kháng chiến chống Mĩ của Việt Nam đang rất cần sự giúp đỡ, hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc. Chính vì vậy, những chủ trương của Trung Quốc và Liên Xô như trên đã ít nhiều tác động đến chủ trương chiến lược về cách mạng miền Nam của Trung ương?.
3.2. Âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mĩ và tay sai đối với miền Nam nước ta và quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng (1954 – 1959)
3.2.1. Mĩ - Diệm tiến hành “đả thực”, “bài phong”, xây dựng và củng cố chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam
Ngay sau khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc thành công, Đông Dương nhanh chóng trở thành tâm điểm trong chính sách chống cộng của Mĩ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Nghị quyết NSC ngày 25.6.1952 của Hội đồng an ninh Quốc gia Mĩ đã xác định “Đông Dương là khu vực có tầm quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mĩ. Mĩ phải bảo vệ Đông Nam Á bằng cách ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản từ Việt Nam tràn xuống”[18: 18]
Chiến thắng Điện Biên Phủ của ta đã làm thất bại mục tiêu “ngăn chặn làn sóng Cộng sản tràn xuống Đông Nam Á” của Mĩ. Sự thất bại này đã làm cho những người đứng đầu nước Mĩ phải lo lắng; văn kiện của Hội đồng an ninh quốc gia Mĩ ngày 5 tháng 8 năm 1954 viết rằng: “... mất Đông Dương sẽ gây nguy hiểm cho nên an ninh của Mĩ. Quyền kiểm soát của Cộng Sản ở Đông Dương sẽ đe dọa các nguồn nguyên liệu thiết yếu và làm yếu lòng tin của các quốc gia Đông Nam Á”.[Xem thêm: 35]
Chính vì những lo ngại đó, cho nên ngay trong khi Hội nghị Giơ-ne-vơ đang diễn ra, Mĩ đã ép Pháp đưa tay sai của mình là Ngô Đình Diệm về Miền Nam Việt Nam làm Thủ tướng trong Chính phủ Bảo Đại (thay thủ tướng Bửu Lộc) nhằm chuẩn bị cho việc thay chân Pháp ở Việt Nam để tiếp tục thực hiện mục tiêu “ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tràn xuống Đông Nam Á”.
Ngay sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, tại Oa-sing-tơn, Tổng thống Mĩ – Ai-xen-hao đã tuyên bố với báo chí rằng: Mĩ không can dự vào những quyết định của hội nghị Giơ-ne-vơ và vì thế, họ không bị ràng buộc bởi những quyết định của bản hiệp định này.
Ngày 08 tháng 8 năm năm 1954, Hội đồng an ninh quốc gia Mĩ do Tổng thống Ai-xen-hao đứng đầu đã ra quyết định NSC 5429/2 với 4 chính sách lớn buộc Pháp phải thực hiện:
1.   Mĩ sẽ trực tiếp viện trợ cho Ngô Đình Diệm không thông qua Pháp.
2.   Mĩ trực tiếp chỉ huy, huấn luyện quân đội ngụy miền Nam Việt Nam.
3.   Buộc Pháp phải rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.
4.   Loại bỏ Bảo Đại và những ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam.
Đồng thời với những hành động trên, Mĩ còn hối thúc Anh, Pháp lôi kéo một số nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương thành lập một liên minh chính trị - quân sự để chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản trong vùng. Và đến ngày 08 tháng 9 năm 1954, tại thủ đô Manila của Phi-lip-pin, đại biểu các nước Mĩ, Anh, Pháp, Úc, Niu-di-lân, Pakistan, Phi-lip-pin, Thái Lan đã kí kết Hiệp ước an ninh và phòng thủ Đông Nam Á – South East Asia Treaty Organization (SEATO).
Ngày 17 tháng 11 năm 1954, Tham mưu trưởng lục quân Mĩ - tướng Cô-lin được cử sang Sài Gòn làm đại sứ của Mĩ tại miền Nam Việt Nam. Viên đại sứ này đã đưa ra một bản kế hoạch gồm 6 điểm nhằm củng cố thế lực Ngô Đình Diệm và biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mĩ:
1. Bảo trợ chính quyền Diệm, viện trợ thẳng cho chính phủ Sài Gòn.
2. Xây dựng quân đội Nam Việt Nam gồm 15 vạn quân do Mĩ trang bị, huấn luyện.
3. Bầu cử Quốc hội ở miền Nam, hợp pháp hoá chính quyền Sài Gòn.
4. Định cư cho số người công giáo miền Bắc di cư vào Nam và vạch kế hoạch cải cách điền địa.
5. Thay đổi chế độ thuế khoá, dành ưu tiên cho hàng hoá Mĩ ở miền Nam.
6. Đào tạo cán bộ hành chính[28: 153].
Ngày 13 tháng 12 năm 1954, Pháp kí hiệp ước giao trách nhiệm huấn luyện và trang bị cho quân ngụy ở miền Nam Việt Nam cho Mĩ. Và đến ngày 19 tháng 12 năm 1954, Pháp tiếp tục kí hiệp định thứ hai trao quyền hành chính và chính trị ở miền Nam cho chính phủ Ngô Đình Diệm.
Đến ngày 14 tháng 5 năm 1956, Chính phủ Pháp thông báo sẽ rút hết quân viễn chinh về nước, trút bỏ trách nhiệm thi hành nhiều điều khoản còn lại của hiệp định Giơ-ne-vơ cho chính quyền Ngô Đình Diệm; trong đó có việc tổng tuyển cử ở hai miền Nam - Bắc để thống nhất đất nước.
Tiếp quản miền Nam từ tay Pháp, ngay lập tức Mĩ hỗ trợ cho Ngô Đình Diệm tiến hành loại Bảo Đại (lúc này đang là Quốc trưởng) ra khỏi chính quyền, thiết lập chế độ độc tài tay sai:
Ngày 17 tháng 7 năm 1955, Diệm đã công khai tuyên bố không hiệp thương tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956 theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Và đến ngày 23 tháng 10 năm 1955, được sự giúp sức của Mĩ, Diệm đã tổ chức “trưng cầu dân ý” và phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và tự tôn xưng mình lên làm tổng thống.
Ngô Đình Diệm đã xây dựng chỗ dựa cho chế độ của mình bằng cách thành lập đảng Cần lao nhân vị ngay từ khi vừa mới về nước thay thế Bửu Lộc (8/1954) và hai tháng sau (10/1954), Diệm lại tổ chức Phong trào cách mạng quốc gia do Trần Chánh Thành đứng đầu với mục tiêu: “đả thực, bài phong, chống cộng”. Tiếp sau đó là các tổ chức chính trị khác lần lượt ra đời như: “thanh niên cộng hoà”, “phụ nữ liên đới”… với cơ cấu tổ chức chặt chẽ từ trung ương tới địa phương nhằm mục đích tập hợp những phần tử phản cách mạng trong giai cấp tư sản, địa chủ, công chức, những người theo đạo thiên chúa… chống lại nhân dân và Cách mạng miền Nam, chia cắt đất nước lâu dài.
Sau khi thâu tóm được quyền lực ở Miền Nam, Ngô Đình Diệm bắt đầu tiến hành hàng loạt các chính sách nhằm kiểm soát miền Nam:
Thứ nhất, dựa vào sự giúp đỡ của Mĩ, Diệm đã ra sức xây dựng một lực lượng quân đội và cơ sở hạ tầng mạnh và hiện đại nhằm phục vụ mục tiêu thanh trừng các lực lượng thân Pháp, tiêu diệt lực lượng Cộng sản ở miền Nam, biến miền Nam Việt Nam thành một “tiền đồn ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á”:
Năm 1955, chính quyền Sài Gòn nhận được từ Mĩ một khoản viện trợ lên đến 320.300.000 USD, trong đó dành cho quân sự là 234.800.000 USD và đồng thời Mĩ cũng bắt đầu đảm nhận công tác huấn luyện cho quân đội Sài Gòn.
Từ tháng 7 năm 1955, Mĩ - Diệm bắt đầu tăng cường bắt lính nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng lực lượng quân đội chính quy mạnh (Theo kế hoạch là 155.000 quân). Kết quả tính đến tháng 6/1956, quân số chính quy của chính quyền Sài Gòn tăng lên 147.462 quân, trong đó: lực lượng lục quân là 140.000 quân được tổ chức thành 10 sư đoàn; không quân có 3.462 tên; hải quân có 4.000 tên.[Xem thêm; 33: 51] Ngoài lực lượng chính quy còn có lực lượng bảo an (47.517 tên) và lực lượng dân vệ và cảnh sát thuộc Bộ Nội vụ.
Thứ hai, Ngô Đình Diệm tăng cường củng cố đạo Công giáo để làm chỗ dựa cho chế độ của mình. Báo cáo của Bộ chính trị tại Hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (mở rộng) đã đánh giá thực trạng và những tác động của chính sách này như sau:
“Lực lượng các tôn giáo ở miền Nam là một lực lượng khá đông, bao gồm gần 2 triệu người. Thái độ chính trị của họ ngả về chế độ Mĩ - Diệm hay về ta có một ý nghĩa quan trọng.
Trước hoà bình tổng số đồng bào Công giáo chỉ khoảng 324.630, nay cộng thêm vào số đồng bào miền Bắc di cư vào có khoảng 711.714 (theo tài liệu của báo chí miền Nam).
Mấy năm qua Mĩ - Diệm cố gắng phát triển Công giáo để làm hậu thuẫn cho chúng. Chúng đạt được một số kết quả ở vài nơi ở Liên khu V; trong những vùng bị khủng bố nặng nề, có nhiều người vào Công giáo để tránh khủng bố; ở Nam Bộ cũng làm như thế, nhưng Công giáo không phát triển nổi.
Số Công giáo người miền Nam, nhất là ở Nam Bộ, trước đây đoàn kết tốt với đồng bào lương và tham gia kháng chiến, đến nay nói chung quan hệ tốt đó vẫn được duy trì. Những cha cố công giáo di cư vào không lôi kéo được họ.
Công giáo di cư khi mới vào nói chung đều ủng hộ Diệm, tích cực chống ta. Nhưng Diệm không đem lại quyền lợi cho họ như đã hứa, trái lại hàng trăm ngàn người bị thất nghiệp, họ bị bắt đi làm đồn điền, lên Tây Nguyên, bị đốt nhà, cắt phụ cấp, đời sống rất cơ cực. Sự tranh giành giữa Ngô Đình Thục với các giám mục khác như Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Nguyễn Văn Hiền, sự tranh giành địa phận con chiên giữa linh mục di cư và địa phương làm cho nội bộ những người đứng đầu Công giáo mâu thuẫn nhau. Số lớn Công giáo di cư bất mãn, thán oán chế độ Mĩ - Diệm và có xảy ra những cuộc đấu tranh khá mạnh mẽ như vụ chống ký khế ước ở Cái Sắn, chống đuổi nhà ở Sài Gòn...”[14: 37,41]
Thứ ba, Chính quyền Diệm tiến hành hạn chế sự phát triển của các tôn giáo khác và đặc biệt là thanh trừng các lực lượng quân đội của các giáo phái thân Pháp ở Nam bộ không chịu theo Diệm:
Trong thời Pháp thuộc, thực dân Pháp đã xây dựng một lực lượng vũ trang trong các giáo phái ở Nam bộ bao gồm: lực lượng Bình Xuyên[2], lực lượng Cao Đài[3] và lực lượng vũ trang Hoà Hảo[4]. Khi mới lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm đã gặp phải nhiều trở ngại trước thế lực quá lớn của lực lượng này. Để đối phó, lúc đầu Mĩ - Diệm đã dùng các biện pháp mềm dẻo để lôi kéo, nhưng chỉ một vài nhóm chịu theo Diệm, còn lại không chịu hợp tác và ra mặt chống đối Diệm:
Trấn áp lực lượng Bình Xuyên:
Đối phó với lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn, chính quyền Diệm đã mở chiến dịch Hoàng Diệu kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1955; kết quả nhiều đơn vị của lực lượng Bình Xuyên đã đầu hàng và sáp nhập vào quân đội của Diệm, Bảy Viễn thoát chết và chạy sang sống lưu vong ở Pháp.
Tiêu diệt lực lượng vũ trang Hoà Hảo:
Sau khi không quy thuận được lực lượng này, Diệm đã huy động một lực lượng quân đội lớn liên tục mở các cuộc hành quân vào các căn cứ của lực lượng vũ trang Hoà Hảo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Những người đứng đầu lực lượng vũ trang Hoà Hảo lần lượt đầu hàng Mĩ - Diệm (Năm Lửa, Ngộ, Ngoán, Ba Cụt), và quân đội của chúng cũng tan rã.
Sau các cuộc thanh trừng của Diệm, “một số đơn vị Hoà Hảo được ta giúp đỡ duy trì lực lượng chống lại Mĩ - Diệm. Bọn chỉ huy vừa dựa vào ta vừa sợ ta nắm bộ đội chúng nên lưng chừng, Mĩ - Diệm một mặt dùng quân sự tấn công tiêu diệt, mặt khác tìm cách mua chuộc bọn chỉ huy. Vì bản chất lưu manh, cướp bóc của bọn chỉ huy, không thể được nhân dân ủng hộ, nên phần lớn dần dần cũng đầu hàng Mĩ- Diệm. Nhưng chính sách đàn áp, cướp bóc của Mĩ - Diệm trong các vùng Hoà Hảo làm cho đồng bào Hoà Hảo thấy rõ bộ mặt bán nước và gian ác của chúng, và cùng với ta chống Mĩ - Diệm. Nhờ vậy mà ta có hoàn cảnh thanh toán những thành kiến cũ, và mở rộng cơ sở và mặt trận chống Mĩ - Diệm trong vùng Hoà Hảo, điều mà trong thời kỳ kháng chiến ta chưa làm được”.[14: 37,41]
Đàn áp lực lượng Cao Đài:
Đạo Cao Đài có khoảng 70 vạn tín đồ được chia làm 12 phái. Diệm đã lôi kéo được phái Cao Đài Liên Minh của Trịnh Minh Thế, còn lại các phái khác với những thái độ khác nhau nhưng không chịu hợp tác với Diệm đã lần lượt bị tấn công; tiêu biểu như:
Phái Cao Đài Hậu Giang của cụ Cao Triều Phát không chịu theo Pháp và đã đưa lực lượng tham gia kháng chiến chống Mĩ - Diệm cùng với nhân dân Nam bộ.
Phái Chính đạo ở Bến Tre, trong kháng chiến đứng trung lập, một số ít tham gia kháng chiến. Hoà bình trở lại họ gần gũi ta hơn. Mĩ - Diệm cố mua chuộc chức sắc nhưng không làm được, nên vu khống cho là Việt cộng và cấm hành đạo. Vì vậy, các tín đồ và chức sắc đều đoàn kết với nhân dân chống Mĩ - Diệm.
Phái Tây Ninh do Hộ pháp Phạm Công Tắc cầm đầu (30 vạn tín đồ). Trong kháng chiến theo Pháp, tổ chức bộ đội, chiếm đóng vùng Toà thánh Tây Ninh chống lại ta, ý thức chống cộng gay gắt. Từ tháng 2 đến tháng 6 năm 1956, Diệm đã mở chiến dịch Nguyễn Huệ tấn công lên Tây Ninh. Quân đội Cao Đài bị bao vây và phân tán. Một số cầm đầu quân sự theo Mĩ - Diệm (Nguyễn Thành Phương) bao vây Toà thánh, giải tán các tổ chức chính trị, kinh tế. Phạm Công Tắc phải chạy sang Miên. Diệm đưa Cao Hoài Sang thay thế Phạm Công Tắc và để lừa gạt tín đồ Cao Đài, hai bên cam đoan: Cao Đài không làm chính trị, Diệm bảo đảm tự do tín ngưỡng.
Những chức sắc và tín đồ Cao Đài oán ghét Mĩ - Diệm vẫn tiếp tục hoạt động chính trị dưới sự điều khiển bí mật của Phạm Công Tắc theo hướng trung lập.
Hạn chế sự phát triển của Phật Giáo:
Để tạo điều kiện thuận lợi cho đạo Thiên Chúa phát triển tương xứng với vai trò là “quốc giáo” như mong muốn của anh em ông Ngô Đình Diệm, chính quyền Diệm đã đưa ra nhiều biện pháp hạn chế hoạt động và sự phát triển của các tôn giáo khác, trong đó đặc biệt là Phật giáo vốn đã có ảnh hưởng rất lớn đối với nhân dân.
“Sau hoà bình ở Liên khu V trong những vùng địch khủng bố đàn áp nặng, các tổ chức Phật giáo tương đối ít bị uy hiếp, lại không có thái độ chính trị xấu nên quần chúng vào Phật giáo cũng khá đông, đồng bào ở vùng tự do cũ, một số đảng viên cũng vào Phật giáo. Do đó Phật giáo ở Liên khu V phát triển, có những tổ chức tương trợ, hộ táng, lập thêm chùa, trường học, v.v.. Xu hướng của Phật giáo chống Mĩ - Diệm và tán thành thống nhất. Hầu hết các lãnh tụ ủng hộ ta, quần chúng tín đồ cùng nhân dân đấu tranh chống Mĩ - Diệm.
Lúc sau này địch khủng bố mạnh, phong trào chung khó khăn, những người cầm đầu trong đạo ở các địa phương nằm yên không biểu thị thái độ như trước, trong quần chúng tín đồ thì phát triển việc cầu nguyện, ăn chay làm lành. Họ có cảm tình với ta, và ta có khả năng tranh thủ họ chống Mĩ - Diệm, mặc dù họ có những hình thức tiêu cực.”[14: 37,41]
Có thể thấy rằng, chính sách phân biệt tôn giáo và các cuộc thanh trừng các giáo phái của Ngô Đình Diệm đã đẩy nhiều tín đồ của các tôn giáo không phải là Công giáo về phía cách mạng và đồng thời đã giúp cho ta tạo ra được “lực lượng giáo phái li khai” chống Diệm làm vỏ bọc cho lực lượng vũ trang cách mạng ở Nam bộ trong giai đoạn 1955 – 1959.
Thứ tư, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện cải cách điền địa nhằm tập trung đánh vào nông dân - chỗ dựa chủ yếu của Đảng và cách mạng;
Ngày 8 tháng 01 năm 1955, Ngô Đình Diệm ra Dụ số 2 về “cải cách điền địa” quy định tá điền và địa chủ phải trực tiếp kí khế ước, mội bên lĩnh canh, một bên phát canh. Mức tô quy định từ 15% đến 25% hoa lợi, thời hạn khế ước được chia làm 2 loại: loại có thời hạn 03 năm và loại có thời hạn 05 năm.
Ngày 05 tháng 02 năm 1955, Diệm tiếp tục ra Dụ số 7 quy định: ruộng bỏ hoang, ruộng vắng chủ được nhà nước giao cho Hội đồng hương chính đứng ra kí với tá điền cho mướn ruộng và thu tô theo nguyên tắc năm đầu miễn hoàn toàn, năm thứ hai thu bằng 2/3 và từ năm thứ ba trở đi thu bằng ¾ mức tô được quy định trong Dụ số 2.
Hai Dụ này đã mở đường cho những địa chủ bỏ chạy trước đây quay trở về chiếm lại ruộng đất, đẩy hàng chục vạn gia đình nông dân được cách mạng chia ruộng đất trước đây rơi vào cảnh trắng tay, phải trở lại làm tá điền cho bọn địa chủ. Trước tình hình đó, nông dân đã nổi lên chống đối và dư luận cũng chỉ trích, phê phán gay gắt chính sách “cải cách điền địa” này.
Để giảm sức ép của dư luận và xoa dịu những hoạt động đấu tranh của nông dân miền Nam, ngày 22 tháng 10 năm 1956, Ngô Đình Diệm đã ra Dụ số 57 quy định: Mỗi địa chủ chỉ được quyền sở hữu tối đa 100 ha, cộng thêm 15 ha hương hỏa và địa chủ nào không phát canh thu tô thì được quyền sở hữu thêm 30 ha. Như vậy, mỗi địa chủ có quyền sở hữu tối đa là 145 ha. Số ruộng đất vượt quy định sẽ bị nhà nước “truất hữu” để đem chia lại cho nông dân.
Tuy nhiên, trong thực tế, hầu hết địa chủ ở miền Nam có ruộng phát canh thu tô đều không vượt quá diện tích 100 ha (số này đang chiếm giữ khoảng 2/3 diện tích đất đai sản xuất); và đương nhiên họ không bị ảng hưởng của Dụ số 57. Còn số địa chủ rơi vào diện bị “truất hữu” thì tìm cách lách luật bằng cách chia nhỏ ruộng đất cho anh em, con cái…
Ngoài ra, dụ số 57 còn quy định, đất đai của nhà thờ đạo Thiên chúa (khoảng 262000 ha) và ruộng của người Pháp (khoảng 229150 ha) không thuộc phạm vi điều chỉnh của dụ này.
Chính vì vậy, trong thực tế, quyền lợi mà Dụ số 57 mang lại cho nông dân là không đáng kể. Thật chất của chính sách “cải cách điền địa” của Ngô Đình Diệm đưa ra trong năm 1955 là nhằm vực dậy và củng cố lực lượng địa chủ để làm chỗ dựa cho Diệm và đồng thời nó nhằm đánh vào lực lượng nông dân - vốn là chỗ dựa của cách mạng miền Nam.
Thứ năm, tiến hành xây dựng các khu dinh điền để giải quyết vấn đề tái định cư cho lực lượng tín đồ thiên chúa giáo mà Diệm đã dụ dỗ, lôi kéo và ép buộc đưa vào miền Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ và xây dựng các khu trù mật với tham vọng nhanh chóng hình thành các khu dân cư trong đó người dân có cuộc sống vật chất và văn hóa cao trên cơ sở một nền kinh tế trù phú và một nếp sống dân chủ xã hội tốt đẹp nhằm tạo sức hấp dẫn với người dân xưa nay “sống nghèo khổ và mất tự do ở các vùng căn cứ kháng chiến” (theo cách nói của Ngụy lúc bấy giờ); đồng thời làm đối trọng với nền kinh tế - xã hội miền Bắc, tách quần chúng khỏi cách mạng.
Có thể nói rằng, những cố gắng của Diệm trong việc khôi phục an ninh, xây dựng và phát triển kinh tế dưới sự hà hơi tiếp sức của Mĩ trong giai đoạn đầu đã mang lại một số kết quả nhất định. Tuy những kết quả đó chỉ là tạm thời, thiếu tính bền vững nhưng nó cũng đã tạo cơ sở cho Diệm tranh thủ được sự ủng hộ của Mĩ, đặc biệt là thực hiện chính sách tố cộng, diệt cộng mạnh mẽ trên khắp miền Nam.
3.2.2. Chính sách “chống cộng” của Diệm và những tổn thất của cách mạng miền Nam trong giai đoạn 1954 - 1959
Chủ trương đấu tranh chính trị hòa bình ở miền Nam của Đảng được duy trì trong một thời gian khá dài từ 1954 đến 1958 đã tạo điều kiện thuận lợi cho Mĩ - Diệm đẩy mạnh thực hiện khủng bố, tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam:
Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa được kí kết còn chưa ráo mực, Ngô Đình Diệm - bất chấp những quy định đã được kí kết - tiến hành hàng loạt các vụ khủng bố, trả thù những người kháng chiến cũ:
Ngày 02 tháng 8 năm 1954, địch đã tiến hành vụ tàn sát đẫm máu ở Kim Đôi làm 17 người chết, 67 người bị thương; tháng 9 năm 1954, địch thảm sát 31 người và làm bị thương 36 người tại Hà Lam, Chợ Được - Quảng Nam; ngày 7 tháng 9 năm 1954, chúng thảm sát 64 người, làm bị thương 76 người tại Ngân Sơn, Chí Thạnh - Phú Yên; Ngày 13 tháng 9 năm 1954, chúng thảm sát 17 người và làm bị thương 500 người ở Mỏ Cày - Bến Tre; ngày 23 tháng 9 và 01 tháng 10 năm 1954, chúng thảm sát 105 người và làm bị thương 186 người tại Chiên Đàn, Cây Cốc - Quảng Nam; hay ở Bình Thành - Đồng Tháp, vào ngày 12 tháng 11 năm 1954, địch đã thảm sát 33 người dân vô tội và là 19 người bị thương…
Đầu năm 1955, Diệm bắt đầu thực hiện chính sách “tố cộng”[5], “diệt cộng”.
Ở khu V: tháng 2 năm 1955, Mĩ - Diệm mở chiến dịch Phan Chu Trinh đánh phá các địa điểm mà chúng nghi ngờ là cơ sở của cách mạng ở các tỉnh ven biển Trung bộ; tháng 4/1955, chúng tiếp tục mở chiến dịch Giải phóng tấn cống, lùng sục nhiều nơi ở Quảng Ngãi và Bình Định để bắt bớ những người mà chúng tình nghi là cộng sản; tháng 5 năm 1955, Diệm tiếp tục cho mở chiến dịch Trịnh Minh Thế tấn công lực lượng cách mạng trên toàn khu V…
Sau một số cuộc tấn công mang tính thăm dò như trên, từ tháng 6 năm 1955 đến giữa năm 1956, Mĩ - Diệm chính thức tiến hành chiến dịch “tố cộng, diệt cộng giai đoạn 1” trên quy mô toàn miền Nam.
Diệm thành lập “Hội đồng nhân dân chỉ đạo tố cộng”. Thành phần của Hội đồng này bao gồm tất cả các bộ trưởng trong chính phủ do Trần Chánh Thành làm chủ tịch và Ngô Đình Diệm làm chủ tịch danh dự. Hội đồng này đã cử ra Uỷ ban chỉ đạo tố cộng trung ương để lãnh đạo trực tiếp phong trào tố cộng ở các tỉnh.
Mỗi tỉnh, huyện, xã đều có ban chỉ đạo tố cộng tương ứng. Và tại các xã, chúng đã tiến hành thành lập các “liên gia”, “ngũ gia liên bảo” để giám sát lẫn nhau, không cho “Cộng sản” đến ăn ở trong các gia đình này.
Trong giai đoạn 1 của chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, chính quyền Diệm đã tiến hành tất cả 3 đợt:
Đợt 1 diễn ra từ 15/5 đến cuối tháng 8/1955 tập trung vào các tỉnh miền Trung.
Đợt 2 diễn ra từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1955; tập trung vào nội bộ cơ quan ngụy quyền.
Đợt 3 diễn ra từ 15/11/1955 đến tháng 5 năm 1956 với quy mô rộng khắp toàn miền Nam.
Trong giai đoạn này, do phải chấp hành chủ trương đấu tranh chính trị hòa bình của Trung ương để chờ đến thời hạn tổng tuyển cử và một phần do ta chủ quan không lường trước được hết những âm mưu của địch nên lực lượng cách mạng miền Nam đã bị chính sách tố cộng diệt cộng giai đoạn 1 của chính quyền Ngô Đình Diệm (1955 – 5/1956) làm cho tổn thất nghiêm trọng:
Trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 1955 đến tháng 2 năm 1956, Mĩ - Diệm đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ đảng viên và những người yêu nước trên khắp miền Nam.
Cá biệt như trường hợp Đảng bộ Thủ Dầu Một (Nay thuộc tỉnh Bình Dương), số đảng viên còn lại sau khi tập kết – 1954 là 1270 người, đến cuối năm 1956 chỉ còn lại 260 đồng chí; mỗi chi bộ còn vài ba đảng viên, thậm chí nhiều xã không còn chi bộ do các đảng viên bị bắt và bị giết hết.
Trong tình thế bức bách đó, nhân dân miền Nam không thể tiếp tục kéo dài tình trạng “ứa nước mắt thúc thủ đưa tay vào xiềng xích kẻ thù”[31: 19] nữa; nhiều nơi ở Nam bộ, nhân dân và các đảng bộ địa phương đã bất chấp chủ trương đấu tranh chính trị của Đảng, tự động đứng lên vũ trang khởi nghĩa lẻ tẻ, như ở Trảng Cỏ (Tây Ninh), quần chúng đã đồng loạt diệt tề ngụy để giành quyền làm chủ. Tuy các đồng chí lãnh đạo cuộc nổi dậy này đã bị kỉ luật, nhưng sự kiện này là dấu hiệu cho thấy “người dân không thể tiếp tục sống như trước nữa”. Nhưng không thể tiếp tục sống được nữa thì có thể làm được gì khi mà lối thoát duy nhất là đứng lên vũ trang đã bị cấm?.
Có thể nói thực tiễn cách mạng miền Nam và chủ trương của Đảng lúc này đang đặt những người lãnh đạo cách mạng miền Nam trước một bài toán khó: Nếu tiếp tục chấp hành đúng chủ trương đấu tranh chính trị hòa bình của Trung ương Đảng thì bị chính sách khủng bố của Ngô Đình Diệm tiêu diệt, nhưng nếu vũ trang để đối phó với Diệm thì vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng.
Trước bài toán tưởng chừng như không có lời giải đó, nhiều địa phương ở miền Nam đã có những sáng tạo riêng của mình trong quá trình vận dụng chủ trương của Trung ương Đảng để tồn tại:
Ở miền Nam, lực lượng cách mạng ở nhiều địa phương đã rút vào các vùng rừng núi, bưng biền để xây dựng căn cứ, bảo toàn lực lượng. Đặc biệt, ở Nam bộ, Xứ ủy Nam bộ và các đảng bộ địa phương đã nắm bắt tình hình, sử dụng danh nghĩa các giáo phái bị Diệm đàn áp để xây dựng lực lượng vũ trang hoạt động công khai chống Diệm để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Đây là một giải pháp rất sáng tạo của cách mạng miền Nam; không vi phạm chủ trương của Trung ương, nhưng vẫn có thể xây dựng được lực lượng vũ trang hỗ trợ cho hoạt động đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam.
Nhờ những sáng kiến trên mà hoạt động đấu tranh chính trị ở nhiều địa phương ở Nam bộ như: Đồng Tháp Mười, U Minh, Bảy Núi… được hỗ trợ bởi lực lượng vũ trang, làm cho chính quyền địch không dám đánh mạnh, hiệu quả đấu tranh cao hơn. Thực tế đó đã cho thấy, cách mạng miền Nam không thể thiếu đấu tranh vũ trang.
Tuy nhiên tất cả những sáng tạo để tồn tại của cách mạng miền Nam trong giai đoạn này vẫn chưa thể trở thành một giải pháp chiến lược chính thức của cách mạng miền Nam.
Giai đoạn 1 của chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” kết thúc với kết quả như trên đã thật sự gây cho ta nhiều khó khăn: một bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân hoang mang, lo sợ, một số cán bộ đảng viên dao động, mất lòng tin, không giữ vững được khí tiết… và bước đầu giúp Diệm củng cố được quyền kiểm soát ở miền Nam; tạo tiền đề cho Mĩ - Diệm tiếp tục những bước đi tàn bạo hơn đối với cách mạng và nhân dân miền Nam.
Với những thắng lợi trong giai đoạn từ 7/1954 đến giữa năm 1956, Diệm đã ngang nhiên công khai tuyên bố không thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, không hiệp thương tổng tuyển cử với miền Bắc; đồng thời tiến hành chiến dịch tố cộng diệt cộng giai đoạn 2 bắt đầu từ giữa năm 1956 kéo dài cho đến cuối năm 1958 với quy mô lớn, tính chất tàn bạo và khốc liệt để trấn áp nhân dân miền Nam.
Diệm công khai đưa vào điều 7 của bản hiến pháp này 20/10/1956 nội dung phủ nhận chủ nghĩa cộng sản; “những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức điều trái với nguyên tắc ghi trong hiến pháp”. Đến tháng 5 năm 1957, Diệm tiếp tục ban hành luật “đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật”… Đồng thời, Mĩ - Diệm liên tục mở 4 chiến dịch lớn nhằm truy quét, tiêu diệt những ai có liên quan đến cách mạng và chống đối lại Diệm:
Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu: Bắt đầu từ ngày 24/6/1956 đến ngày 24/02/1957; chúng đã huy động một lực lượng lớn mở nhiều cuộc hành quân càn quét đánh phá các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang bí mật của ta và các tổ chức vũ trang Hòa Hảo li khai chống Diệm. Chúng đã giết 441 người và bắt 2117 người.
Chiến dịch Trương Tấn Bửu: từ ngày 10/7/1956 đến ngày 24/2/1957; chúng tiến hành càn quét vùng Miền Đông Nam bộ và Sài Gòn - Chợ Lớn nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng và tàn quân của nhóm Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo đang ủng hộ ta và tiến hành chiến dịch tố cộng, diệt cộng hết sức gắt gao nhằm quét sạch lực lượng cách mạng và những ai dính líu đến cách mạng. Kết quả: 102 người bị giết, 882 người bị bắt.
Chiến dịch Mùa thu: Từ 01/10/1957 đến tháng 12/1957; chúng huy động lực lượng tấn công vào vùng đông bằng sông Cửu Long lần thứ hai để bảo vệ và của cố kết quả tố cộng, diệt cộng trước đó và ngăn cản họat động của ta, bảo vệ vựa lúa của chúng ở đây.
Chiến dịch Nguyễn Trãi: từ 20/4/1958 đến 20/11/1958; đánh lại các tỉnh Đông Nam bộ lần thứ hai. Đồng thời chúng mở song song chiến dịch Hồng Châu càn quét vùng ngoại ô Sài Gòn để tiêu diệt lực lượng cách mạng.
Ngày 01/12/1958, Chính quyền Sài Gòn đã đầu độc 6000 người yêu nước ở nhà tù Phú Lợi, làm hơn 1000 người chết. Nghiêm trọng hơn, tháng 5/1959, chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành đạo luật 10/59, lê máy chém khắp miền Nam giết hại những người vô tội.
Trước bối cảnh đó, ở Khu V, Liên khu ủy đã chủ trương chuyển một bộ phận Đảng viên, cán bộ hoạt động bí mật ra sống hợp pháp trong lòng địch, kết hợp với hệ thống lãnh đạo không hợp pháp bên ngoài, lãnh đạo nhân dân đấu tranh. Chủ trương này đã dẫn đến những tổn thất lớn của lực lượng cách mạng khu V trước chính sách khủng bố tàn bạo của địch.
Riêng ở Nam bộ, mặc dù đã chủ động lợi dụng danh nghĩa các giáo phái để xây dựng lực lượng vũ trang hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị; nhưng do chính quyền diệm tiến hành các cuộc hành quân chà đi xát lại nhiều lần ở Nam bộ nên lực lượng cách mạng ở đây cũng lâm vào số phận bi thảm không kém khu V.
Tính đến cuối năm 1958, trên toàn miền Nam, Mĩ - Diệm đã giết hại khoảng 68.800 cán bộ đảng viên (tính trung bình cứ từ ba đến năm gia đình có một người bị giết), bắt giam 466.000 và tra tấn dẫn đến thương tật 680.000 người[44: 178]; (Theo Điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi chủ tịch ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát ở Việt Nam, ngày 06/3/1959 thì tính từ cuối năm 1954 đến tháng 2/1959, chúng đã bắt giam 180.843 người, làm bị thương 10185 người, giết chết 4.971 người.); theo số liệu được công bố gần đây thì những con số cụ thể ở từng khu vực như sau: [Xem thêm; 27: 96]
Ở Quảng Trị, sau tập kết ta còn 8.400 Đảng viên với hàng trăm chi bộ. đến đầu năm 1957, ở đồng bằng còn lại 7 chi bộ với 106 đảng viên, trong đó có 71 đảng viên hoạt động đơn tuyến; ở miền núi còn 70 đảng viên; hai huyện Cam Lộ và Hải Lăng không còn đảng viên nào.
Ở khu V, đến cuối năm 1957, đã có 70% cấp ủy xã, 60% huyện ủy viên, 40% tỉnh ủy viên ở các tỉnh đồng bằng đã bị bắt, bị giết, nhiều huyện, xã không còn cán bộ lãnh đạo. Đặc biệt, Đảng bộ Quang Nam, Đà Nẵng, tháng 8/1954 có 35.000 đảng viên, đến cuối năm 1958 chỉ còn dưới 100 đảng viên họat động đơn tuyến….
Khi bắt đầu chuyển hướng đấu tranh chính trị, Liên tỉnh ủy miền Trung Nam bộ có 12.000 đảng viên, cán bộ, đến cuối năm 1959, chỉ còn 2000 người.
Ở Liên tỉnh ủy miền Tây Nam bộ, địch đã bắt giết, tù đày… 51.590 cán bộ đảng viên và quần chúng cách mạng; trong đó có 12.270 là cán bộ và đảng viên.
Ở liên tỉnh ủy miền Đông Nam bộ và Sài Gòn – Gia Định, số cán bộ đảng viên tổn thất nặng nề chưa từng thấy: ở Hóc Môn, năm 1954 để lại 100 đảng viên thì đến năm 1958 chỉ còn lại duy nhất 1 người; ở Gò Vấp, Tân Bình, năm 1954 còn 1000, nhưng đến đầu 1959 chỉ còn lại vỏn vẹn có 8 người; cả tỉnh Gia Định chỉ còn lại duy nhất một chi bộ Đảng còn hoạt động là chi bộ Tân Phú Trung - Củ Chi,…
Tổng kết riêng ở Nam bộ, số đảng viên còn lại tính đến đầu năm 1959 là 5.000 so với con số khổng lồ - 60.000 đảng viên ở lại Miền Nam.
3.2.3. Quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng giai đoạn 1954 – 1959
Thực hiện đúng chủ trương chỉ đạo của Đảng, tháng 8 năm 1954, phong trào hòa bình[6] của tri thức và các tầng lớp nhân dân ra đời ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã tổ chức nhiều cuộc Mittinh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, hiệp thương tổng tuyển cử nhưng đã bị chính quyền Diệm đàn áp và khủng bố.
Tiếp sau đó, phong trào chống “trưng cầu dân ý”, chống bầu cử Quốc hội, đòi hiệp thương tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước, chống khủng bố, đàn áp, chống chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, đòi quyền tự do dân chủ… lại tiếp tục dâng cao và lan rộng từ thành thị đến nông thôn.
Những chính sách khủng bố ác liệt của chính quyền Diệm vẫn không thể dập tắt được phong trào cách mạng. Trái lại, chúng còn làm cho nhân dân ta căm ghét thêm và phong trào chống Mĩ - Diệm ở miền Nam ngày càng diễn ra mạnh mẽ hơn.
Trong Báo cáo Hội nghị 15, Trung ương Đảng đã kết luận: “… các thủ đoạn gian dối của Mĩ - Diệm không che giấu nổi bộ mặt phản dân tộc của một chính quyền ngoại lai bán nước. Những luận điệu tuyên truyền của chúng trái ngược với thực tế của một xã hội thối nát bày ra hàng ngày trước mắt quần chúng. Do đó chính quyền Mĩ - Diệm không thể tìm được chỗ dựa rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân, trái lại quảng đại quần chúng chống lại chính sách lệ thuộc bán nước của chính quyền Mĩ - Diệm”[14: 4]
Trong hai năm đầu sau Hiệp định, do ta chủ quan không lường trước được hết những âm mưu của địch nên đã duy trì chủ trương đấu tranh chính trị hòa bình để chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Và hậu quả là lực lượng cách mạng miền Nam đã bị chính sách “tố cộng” “diệt cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm làm cho tổn thất nghiêm trọng.
Thực tiễn cách mạng miền Nam lúc này đang đặt những người trực tiếp lãnh đạo cách mạng trước một bài toán khó: Nếu chấp hành đúng chủ trương đấu tranh chính trị hòa bình của Trung ương thì bị chính sách khủng bố của chính quyền Ngô Đình Diệm tiêu diệt, nhưng nếu vũ trang để đối phó với chính quyền Diệm thì vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng.
Để bảo vệ lực lượng cách mạng trong điều kiện khó khăn trên, nhiều địa phương ở miền Nam đã có những sáng tạo riêng của mình trong quá trình vận dụng chủ trương của Trung ương vào thực tiễn cách mạng như: chủ động rút lực lượng vũ trang vào các vùng rừng núi, bưng biền để xây dựng căn cứ, bảo toàn lực lượng…
Đặc biệt một số địa phương ở Nam bộ đã lợi dụng danh nghĩa các giáo phái bị Diệm đàn áp để xây dựng lực lượng vũ trang hoạt động công khai chống chính quyền Diệm, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.
Sự ra đời của những lực lượng vũ trang cách mạng tự phát, dưới danh nghĩa các giáo phái li khai chống Diệm trong những năm 1955, 1956 là một hướng đi đúng xuất phát từ nhu cầu tồn tại của cách mạng miền Nam, nó chứng tỏ rằng cách mạng miền Nam không thể thiếu lực lượng vũ trang.
Tháng 6 năm 1956, trước những bất lợi diễn biến quá nhanh của tình hình miền Nam, Bộ chính trị đã ra nghị quyết xác định rằng: “tuy hình thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, nhưng như thế không có nghĩa là không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định”; đồng thời còn nhấn mạnh: “phải củng cố lực lượng vũ trang, nửa vũ trang hiện có, xây dựng các căn cứ làm chỗ dựa, đồng thời phải xây dựng các cơ sở quần chúng vững chắc là điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang”[9: 148]
Tháng 8/1956, đồng chí Lê Duẩn đã hoàn thành bản Đề cương cách mạng miền Nam; trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn cách mạng miền Nam, đồng chí Lê Duẩn đã xác định trong bản đề cương rằng: “trước chính sách khủng bố tàn bạo của kẻ thù, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác là phải đứng lên đập tan chính sách độc tài của Mĩ - Diệm để tự cứu mình”.[6: 43]
Tháng 12 năm 1956, Hội nghị lần thứ II của Xứ ủy Nam bộ do đồng chí Lê Duẩn chủ trì đã phân tích tình hình cách mạng miền Nam và bàn thảo nhiều vấn đề. Cuối cùng Xứ ủy đã quyết định chủ trương “xé rào”, mở đường cho cách mạng miền Nam phát triển theo hướng có kết hợp đấu tranh vũ trang; “con đường tiến lên của cách mạng miền Nam phải dùng bạo lực của quần chúng đi lên tổng khởi nghĩa. Do nhu cầu cách mạng, trong chừng mực nào đó phải có lực lượng vũ trang để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tới sau này dùng nó để đánh đổ Mĩ - Diệm”.[38: 20]
Và “cần có lực lượng tự vệ vũ trang tuyên truyền hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tới sau này dùng lực lượng vũ trang đó để làm cách mạng đánh đổ Mĩ - Diệm”. [38: 73]
Chủ trương “xé rào” của xứ ủy Nam bộ đã mở ra một lối thoát tuy hẹp nhưng rất quan trọng đối với sự tồn vong của Cách mạng miền Nam; ở Nam bộ, Nam Trung bộ, nhiều lực lượng vũ trang bí mật đã được thành lập trở lại để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị diễn ra có hiệu quả.
Ngày 2/7/1957, tại Hội chợ Buôn Ma Thuột, lực lượng của ta đã ám sát hụt Ngô Đình Diệm; đến tháng 10/1957, tại chiến khu Đ, ta đã thành lập đơn vị vũ trang đầu tiên của miền Đông Nam bộ làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang của Nam bộ sau này.
Tháng 4/1958, ở Bắc Ái – Ninh Thuận, 3000 đồng bào đã nổi dậy phá khu tập trung. Sau đó, đồng bào ta tiếp tục kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang bảo vệ buôn làng, chống dồn dân…
Ngày 11/10/1958, lực lượng vũ trang của ta tiến công quận lị Dầu Tiếng (nay thuộc Bình Dương) và là chủ quận lị trong 24 giờ. Đây là trận đánh lớn đầu tiên của ta, đánh dấu bước chuyển mới của cách mạng miền Nam sau thời kì đấu tranh hòa bình.
Trước những chuyển biến bất lợi cho cách mạng ở miền Nam, đầu năm 1957 Bộ chính trị đã tính đến việc xây dựng một đường lối đấu tranh mới cho miền Nam; Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số cán bộ cao cấp của Đảng được giao nhiệm vụ này. Mặc dù không trực tiếp chiến đấu ở miền Nam, chỉ qua theo dõi tình hình, những người soạn thảo đường lối mới cũng đã nhận thấy được thực tế và nhận định: “địch dùng biện pháp quân sự đàn áp nhân dân ta, tiếp tục đấu tranh hòa bình sẽ không có kết quả, phải đấu tranh vũ trang mới đưa phong trào cách mạng tiến lên được”.[44: 216]
Tuy nhiên do đường lối và quan điểm của Liên Xô và Trung Quốc là muốn chúng ta giải quyết vấn đề thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình, không muốn ta dùng vũ lực. Do đó, chủ trương chuyển cách mạng miền Nam sang đấu tranh vũ trang đã không nhận được sự nhất trí cao trong Bộ chính trị.
Cuối năm 1957, Đồng chí Lê Duẩn - tác giả của “Đề cương cách mạng miền Nam” được Trung ương điều ra Hà Nội làm Bí thư thứ nhất và trực tiếp chỉ đạo cách mạng miền Nam. Đồng chí Lê Duẩn đã được Bác giao nhiệm vụ thay thế Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh đường lối mới cho cách mạng miền Nam.
3.3. Phong trào “Đồng khởi” (1959 – 1960)
3.3.1. Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II
Những tổn thất to lớn của cách mạng miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1959 cho thấy, chủ trương đấu tranh chính trị hòa bình đã không còn thích hợp, cách mạng miền Nam cần phải có một đường lối đấu tranh mới. Ngày 13 tháng 01 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa II mở rộng đã được khai mạc tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bí thư thứ nhất Lê Duẩn.
Đến dự Hội nghị lần này đặc biệt có các đồng chí lãnh đạo ở các địa phương như Phan Văn Đáng, Phạm Văn Xô đến từ Xứ ủy Nam bộ, Trần Lương, Võ Chí Công đến từ Khu ủy Khu V. Các đồng chí lãnh đạo này mang theo cả tình hình nóng bỏng của miền Nam, khí thế cách mạng, thực tiễn cách mạng, kinh nghiệm và nguyện vọng thiết tha cháy bỏng của nhân dân miền Nam là được vũ trang đánh giặc vào Hội nghị.
Hội nghị diễn ra suốt cả tháng với nhiều cuộc thảo luận và bàn bạc sôi nổi, cuối cùng đã đi đến thống nhất xác định nhiệm vụ và con đường cơ bản của cách mạng miền Nam như sau:
“Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mĩ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sông nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới”; [14: 81, 82]
“Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”[14: 82].
Hội nghị kết thúc với kết quả thống nhất như trên, nhưng nghị quyết chính thức của Hội nghị vẫn chưa được hoàn chỉnh và chính thức thông qua. Nghị quyết được giữ bí mật và chỉ được phổ biến cho những cán bộ chủ chốt của các xứ ủy, khu ủy và những người tham dự hội nghị.
Trước khi chuẩn bị trở về miền Nam, Đồng chí Phạm Văn Xô có hỏi Bác về chủ trương đấu tranh vũ trang, Bác đã trả lời rằng: “dù sao cũng không thể để cách mạng miền Nam chịu tổn thất hơn nữa. Xứ ủy các chú có phải là Đảng không? Trung ương ở xa, các chú phải tùy tình hình, cân nhắc kĩ lưỡng mà quyết định và chịu trách nhiệm”.[27: 268]
Đến tháng 5 năm 1959, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành trung Ương Đảng khóa II (Xem phụ lục) mới hoàn chỉnh và chính thức được thông qua. Lúc đó, nghị quyết chính thức của hội nghị mới được gởi về cho Xứ ủy Nam bộ và Khu ủy khu V… và đến cuối năm 1959 mới chính thức phổ biến rộng rãi.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II về đến các tỉnh thành ở miền Nam không cùng một thời gian, nhưng đến đâu cũng được cán bộ, đảng viên và nhân dân khao khát đón nhận; kết quả đó đã chứng tỏ rằng Nghị quyết đã đáp ứng được mong mỏi của nhân dân miền Nam, đáp ứng được những yêu cầu quá bức xúc của cách mạng. Phong trào Đồng Khởi[7] ở khắp miền Nam nổ ra trong năm 1959 – 1960 chứng tỏ tính đúng đắn của bản nghị quyết này.
Có thể nói rằng, nghị quyết 15 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa II đã cắm một mốc son quan trọng trong lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng, tạo nên một bước nhảy vọt cho phong trào cách mạng miền Nam.
Trên đà thắng lợi, ngày 20/12/1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay thuộc huyện Tân Biên), tỉnh Tây Ninh, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Từ đây, Mặt trận sẽ trực tiếp lãnh đạo thống nhất phong trào cách mạng miền Nam chống Mĩ - Diệm.
3.3.2. Phong trào Đồng Khởi ở Miền Nam bùng nổ
Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Nghị quyết 15 như một ngọn gió thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng; phong trào Đồng Khởi bùng lên khắp miền Nam.
Mở đầu là cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Thạnh (Bình Định) vào ngày 6/2/1959, tiếp sau đó là cuộc khởi nghĩa của nhân dân tại vùng B’râu – huyện Bắc Ái tỉnh Ninh Thuận ngày 7/02/1959 phá khu tập trung của địch, trở về quê cũ. Sau đó, cuộc khởi nghĩa lan rộng khắp 12 xã thuộc huyện Bắc Ái nổi dậy phá bỏ hệ thống kìm kẹp của địch ở địa phương, thành lập chính quyền cách mạng…
Sau cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Thạnh, Bắc Ái, chính quyền Sài Gòn tiếp tục đối mặt với một cuộc khởi nghĩa mới với quy mô lớn hơn của Đảng bộ và nhân dân Trà Bồng (Quảng Ngãi). Ngày 28/8/1959, 16.000 đồng bào đã nổi dậy đấu tranh chính trị có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, quét sạch ngụy quyền ở 16 xã, bức rút 7 đồn địch, thành lập chính quyền cách mạng ở thôn xã dưới hình thức Ủy ban nhân dân tự quản. Thắng lợi của Trà Bồng đã lan rộng thêm 3 huyện khác: Minh Long, Sơn Hà, Ba Tơ.
Ở Nam bộ, ngày 26 tháng 9 năm 1959, tại Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung (Huyện Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong – nay thuộc huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp) lực lượng vũ trang của tỉnh Kiến Phong (tiểu đoàn 502) đã đánh bại hai tiểu đoàn của Ngụy[8]. Đây là trận đánh lớn nhất của ta ở Nam bộ kể từ sau 1954. Đặc biệt vào đầu năm 1960, cao trào Đồng Khởi diễn ra mạnh mẽ ở Bến Tre:
Ngày 17/01/1960, tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp và Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) với gậy, gộc, súng ống… đồng lọat nổi dậy đánh đồn bốt và giải tán chính quyền địch, phá bỏ tổ chức liên gia, tuyên bố quân lệnh của cách mạng (“Bọn ác ôn có nợ máu và bọn địa chủ cướp ruộng đất của nông dân sẽ bị trừng trị,… Binh sĩ, sĩ quan có tội đến đâu mà biết hối cải điều được khoan hồng, nếu mang súng trở về với nhân dân sẽ được khen thưởng… Tề xã, liên gia trưởng, công anm chỉ điểm, đi trả chức về với nhân dân sẽ được khoan hồng. Ai trái lệnh sẽ bị nhân dân trừng trị” - Theo tư liệu của Bảo tàng Bến Tre).
Cuộc nổi dậy lan khắp huyện Mỏ Cày và đến huyện Thạnh Phú, Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri. Trong vòng 8 ngày, cách mạng đã giải phóng 22 xã, bức rút 37 đồn bốt, thành lập chính quyền cách mạng, chia ruộng đất cho dân cày nghèo.
Ngày 22/2/1960, địch huy động 10.000 quân chủ lực từ thị xã Bến Tre, Mĩ Tho, Trà Vinh và Sài Gòn có sự yểm trợ của máy bay và tàu chiến tấn công vào trung tâm của phong trào Đồng Khởi. Quần chúng cách mạng và lực lượng của ta sau khi tiêu hao sinh lực địch đã rút lui để bảo toàn lực lượng.
Ngày 24/9/1960, Đảng bộ Bến Tre tiếp tục phát động đấu tranh đợt 2. Trong đợt này, huyện Giồng Trôm được chọn làm địa bàn trọng điểm. Mở màn là trận đấu tranh chính trị kết hợp với quân sự và binh vận của nhân dân ba xã Châu Phú, Châu Thời và Châu Hòa đã hạ được 3 đồn địch ở đây một cách nhẹ nhàng, không có thương vong. Sau thắng lợi này, phong trào Đồng Khởi lại lan rộng khắp tỉnh Bến Tre, giải phóng được hoàn toàn 48 xã, san phẳng 60 đồn địch.
Từ Bến Tre, phong trào lan rộng khắp Nam Bộ, Tây Nguyên và một số nơi ở miền Trung Trung bộ. Ở Nam bộ, quân cách mạng ở Tây Ninh đã giành thắng lợi bất ngờ ở Tua Hai vào ngày 26/01/1960 gây thương vong cho khoảng 400 tên, hơn 1000 tên đầu hàng[9]. Đến cuối năm 1960, ta đã giải phóng được 600/1298 xã ở Nam bộ, 904/8329 thôn ở Trung bộ, 3200/5721 thôn ở Tây Nguyên.
Đánh giá về sự thất bại của chính quyền Diệm sau phong trào Đồng Khởi, Cục tình báo trung ương Mĩ viết: “… một thời kì nghiêm trọng đối với tổng thống Ngô Đình Diệm và Việt Nam Cộng Hòa hiện đã ở ngay trước mắt… Trên một nửa toàn bộ vùng nông thôn nằm ở phía Nam và Tây Nam Sài Gòn cùng như một số vùng ở phía Bắc đã nằm dưới quyền kiểm soát cuả cộng sản,…”[39: 102]
3.3.3. Ý nghĩa của phong trào Đồng Khởi
Phong trào Đồng Khởi đã giáng một đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mĩ ở miền Nam; làm lung lay tận gốc chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, làm cho mâu thuẩn nội bộ của chính quyền Diệm ngày càng gia tăng: ngày 26/4/1960, một số chính sách và chức sắc tôn giáo đã ra tuyên ngôn tố cáo Ngô Đình Diệm độc tài, đặc biệt là cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Diệm của các quân nhân ngụy bất thành vào ngày 1/11/1960.
Đánh dấu bước nhảy vọt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công và làm thất bại chiến lược “chiến tranh đơn phương” của Mĩ - Diệm; chứng tỏ tính đúng đắn của Nghị quyết 15 và tính sáng tạo trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta.

BÀI TẬP:
1. Đế quốc Mĩ và tay sai đã thực hiện âm mưu và thủ đoạn gì ở miền Nam sau Hiệp định Giơnevơ 1954?
2. Tại sao Đảng chủ trương tiến hành đồng thời ở hai miền Bắc, Nam hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng khác nhau trong thời kì 1954 - 1975? Nội dung và ý nghĩa của chủ trương đó như thế nào?
3. Cách mạng từng miền Bắc, Nam và cách mạng cả nước trong thời kì 1954 - 1975 đã thực hiện những nhiệm vụ chiến lược đó như thế nào?
4. Cuộc đấu tranh chống chế độ Mĩ - Diệm của nhân dân ta ở miền Nam trong những năm đầu sau hiệp định Giơnevơ 1954 đã diễn ra như thế nào?
5. Phong trào “Đồng Khởi” ở miền Nam (1959 - 1960) đã diễn ra trong hoàn cảnh như thế nào? Chủ trương, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của phong trào “Đồng Khởi”.

4. Miền Bắc xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội (1961 - 1965)
4.1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9 - 1960)
Đến cuối năm 1960, tình hình cách mạng ở hai miền đã có những bước chuyển biến đáng kể: miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam đã giành được những thắng lợi đáng kể trong phong trào Đồng Khởi. Thực tế đó đòi hỏi Đảng phải phải khẳng định đường lối chiến lược và bước đi mới cho phù hợp.
Từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1960, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã diễn ra. Tham dự Đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết. Đại hội đã kiểm điểm công tác lãnh đạo của Đảng trong 10 năm kể từ Đại hội II (2/1951), thảo luận và vạch ra đường lối đấu tranh cho cả hai miền trong giai đoạn mới. Đại hội đã xác định nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam là:
Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, dân giàu, nước mạnh[37:147].
Đại hội cũng đã xác định rõ nhiệm vụ chiến lược của cả hai miền là: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tăng cường mau chóng lực lượng của miền Bắc về mọi mặt”[10: 30] và “trách nhiệm của cách mạng ở miền Nam là phải trực tiếp làm nhiệm vụ đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”[10: 33].
Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương mới của Đảng gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết; bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng, và đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất.
Đại hội đã đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình xác định đường lối cách mạng ở hai miền Nam – Bắc, định hướng cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1961 – 1975.
4.2. Miền Bắc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961 - 1965)
Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Đảng và Chính phủ đã xác định miền Bắc là nền tảng, gốc rể đảm bảo cho sự thành công của cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất tổ quốc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã xác định: phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, biến miền Bắc thành căn cứ địa vững chắc cho các mạng cả nước. Để thực hiện nhiệm vụ đó, Đại hội đã đề ra kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) nhằm bước đầu công nghiệp hóa nước nhà.
Từ năm 1961 đến năm 1965, nhân dân miền Bắc đã dồn sức thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất với nhiều phong trào thi đua sôi nổi như trong nông nghiệp có phong trào “đại phong”, trong công nghiệp có phong trào "duyên hải", trong quân đội có phong trào "ba nhất", trong thủ công nghiệp có phong trào "thành công"….
4.2.1. Công nghiệp
Chủ trương phát triển công nghiệp của Đảng đề ra tại đại hội III là: "Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại". [15: 926]
Để thực hiện nhiệm vụ đó, nhà nước đã thực hiện những biện pháp và chính sách nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật và quản lý, huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, cải tiến kỹ thuật…
Kết quả sau 5 năm thực hiện, ngành công nghiệp miền Bắc đã có những bước phát triển đáng kể trong tất cả các lĩnh vực:
Tính đến năm 1965, ngành điện tăng gấp 10 lần so với năm 1955; ngành cơ khí tăng bình quân hàng năm là 30%.
Vốn dầu tư cho công nghiệp được ưu tiên hàng đầu; nhờ vậy, trong giai đoạn này, một số nhà máy lớn đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng như: khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy hóa chất Việt Trì, phân đạm Bắc Giang, Supper phốt phát Lâm Thao, …
Công nghiệp phục vụ nông nghiệp ngày cnàg phát triển mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy quá trình cơ giới hóa, hiện đại hóa nông nghiệp: so với năm 1960 đến năm 1965, số cày cải tiến tăng 3,7 lần, máy bơm nước tăng 10 lần thuốc trừ sâu tăng 8,1 lần.[28: 172] Sự phát triển trên đã làm cho tổng giá trị sản phẩm ngành công nghiệp tăng từ 1248 triệu vào năm 1960 lên 2355 triệu vào năm 1965; tốc độ tăng bình quân hàng năm là 13,6%; trong đó công nghiệp quốc doanh chiếm 93,1% tổng sản lượng.
4.2.2. Nông nghiệp
Chủ trương của Đảng và nhà nước là tiếp tục củng cố và phát triển hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh làm cơ sở cho sự phát triển nông nghiệp. Nhiệm vụ trọng tâm của nông nghiệp là giải quyết vấn đề lương thực đồng thời coi trọng cây công nghiệp, chăn nuôi, mở mang nghề cá, nghề phụ .. phấn đấu nâng cao mức sống của người nông dân, làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền Bắc.
Nông dân miền Bắc đã tích cực hưởng ứng những chủ trương của Đảng, hăng hái thi đua tăng năng suất, khai hoang, tăng vụ, cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật … làm cho nền nông nghiệp có những chuyển biến tích cực:
Có trên 90% hộ nông dân đã vào hợp tác xã, trong đó có 50% là hợp tác xã bậc cao; năm 1960, toàn miền Bắc có 4.300 hợp tác xã bậc cao thì đến năm 1965 đã tăng lên 18.600 hợp tác xã.
Năng suất tăng hơn trước; năm 1965, có 9 huyện và 125 hợp tác xã đạt năng suất 5 tấn/ ha/năm.
Phương tiện, kỹ thuật canh tác ngày càng phát triển: năm 1965 đã xây dựng được 3.139 điểm cơ khí nhỏ, 7 trạm máy kéo và 32 đội máy khéo, 33 công trình thủy lợi lớn.
Bên cạnh những thành quả trên, nền nông nghiệp miền Bắc cũng bắt đầu bộc lộ một số hạn chế, yếu kém: trình độ quản lý các hợp tác xã rất yếu, cơ sở vật chất vẫn còn lạc hậu, cơ sở hạ tầng tuy nhiều nhưng sử dụng kém hiệu quả... kết quả là nền nông nghiệp có phát triển so với trước nhưng năng suất lại đi xuống, thu nhập của xã viên ngày càng giảm.
4.2.3. Văn hóa, giáo dục và y tế
Đảng và Nhà nước chủ trương tiếp tục xóa bỏ những tàn tích của chế độ cũ, đẩy mạnh phát triển văn hóa, giáo dục để xây dựng một nền văn hóa mới và con người mới Việt Nam.
Trong 5 năm (1961 - 1965) số trường phổ thông tăng từ 7066 lên 10.294 trường, số trường đại học từ 9 trường lên 18 trường; ngoài ra nhà nước còn ban hành các chế độ, chính sách phát triển giáo dục. Nhờ vậy, số học sinh phổ thông tăng 3,5 lần, số sinh viên đạt 34.000 người, 6 vạn học sinh trung cấp và cơ bản đã xóa được nạn mù chữ ở miền Bắc.
Mạng lưới y tế được xây dựng rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, tính đến năm 1965, đã có 70% số huyện có bệnh viện, 90% số xã đồng bằng và 78% số xã miền núi có trạm y tế với đội ngũ y bác sĩ, tăng gấp 5 lần so với năm 1960 (1525 bác sĩ, 8043 y sĩ).
Đời sống văn hóa được nâng cao; hàng năm có hơn 2000 đầu sách được xuất bản, số lượng thư viện tăng gấp 3 lần; đến 1965, có gần 100 đơn vi nghệ thuật chuyên nghiệp, phim ảnh và các hình thức nghệ thuật khác ngày càng phong phú; các tệ nạn xã hội ngày càng giảm.
4.2.4. Quân sự, quốc phòng
Trong giai đoạn 1961 - 1965, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung cho việc xây dựng quân đội chính qui hiện đại theo kế hoạch quân sự lần thứ hai để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế.
Lực lượng vũ trang 3 thứ quân lớn mạnh không ngừng cả về chất lượng và số lượng:
Các đơn vị tập kết từ miền Nam ra được tổ chức thành các lữ đoàn gọn nhẹ, có hỏa lực tương đối mạnh, sẵn sàng trở lại chiến trường miền Nam làm nhiệm vụ.
Tháng 6/1964, nhận thấy tình hình Mĩ leo thang đánh phá miền Bắc, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị về tăng cường công tác phòng không nhân dân, sẵn sàng chiến đấu cao; quân số thường trực ở miền Bắc đã lên tới 173.000 người, chiếm khoảng 1% dân số; lực lượng dân quân tự vệ được tổ chức rộng khắp với số lượng lên tới ¼ triệu người…
Không quân và hải quân được chú trọng phát triển: ta đã xây dựng 4 tiểu đoàn tàu ven biển với hơn 100 tàu các loại, một trung đoàn không quân tiêm kích, sửa chữa 12 sân bay, quân chủng phòng không được trang bị 1000 khẩu pháo cao xạ, hệ thống ra đa phòng không hiện đại.
Để đảm bảo yêu cầu bảo vệ miền Bắc và chi viện cho miền Nam kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Chính phủ đã cho cải tạo, nâng cấp và mở rộng hệ thống giao thông chiến lược ở cả 2 miền Nam - Bắc.
Công tác chi viện cho miền Nam trong giai đoạn 1961 - 1963 bắt đầu được tăng cường: tổng cộng có 4 vạn cán bộ được chuyển vào miền Nam. Đến năm 1964, các đơn vị cơ động cấp trung đoàn đã được đưa vào Nam.
4.2.5. Hoạt động đối ngoại
Đảng ta đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bè bạn quốc tế phục vụ cho sự nghiệp chống Mĩ cứu nước, thực hiện hòa bình thống nhất đất nước.
Giữa năm 1961, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Liên Xô, Trung Quốc và một số nước xã hội chủ nghĩa. Sau đó, Chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa - Lưu Thiếu Kỳ đã dẫn đầu đoàn đại biểu Trung Quốc thăm Việt Nam.
Tháng 2/1964 Bí thư thứ nhất Lê Duẩn dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm Liên Xô. Sau đó đoàn đại biểu Liên Xô đã sang thăm nước ta…
Năm 1961, ta thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia: Chi Lê, Ma rốc, Cu Ba. Năm 1963, ta đã đặt đại sứ ở nhiều nước: Angiêri, Yêmen, Côngô, Indonesia. Sự mở rộng quan hệ quốc tế giai đoạn này đã giúp ta tranh thủ được sự đồng tình, giúp đỡ, ủng hộ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới.
4.2.6. Củng cố chính quyền
Để biểu thị quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, ngày 27/3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Tại Hội nghị, Người đã khẳng định: "nếu đế quốc Mĩ liều lĩnh động đến miền Bắc thì nhất định chúng sẽ thất bại thảm hại"[28: 178] và kêu gọi nhân dân miền Bắc phải "mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền nam ruột thịt".[28: 178]
Ngày 26/4/1964, nhân dân miền Bắc tiến hành bầu cử Quốc hội khóa III. Kết quả: 366 đại biểu trúng cử, trong đó có 71 đại biểu là công nhân, 90 đại biểu là nông dân, 18 đại biểu là quân nhân, 98 đại biểu làm công tác khoa học kỹ thuật, giáo dục, văn học nghệ thuật, 60 đại biểu thuộc các dân tộc thiểu số, 62 đại biểu nữ, 8 đại biểu là người tôn giáo. Ngoài ra còn 87 đại biểu miền Nam trúng cử khóa I được kéo dài nhiệm kỳ[28: 178].
Từ ngày 25/6 đến ngày 3/7/1964, kỳ họp thứ nhất của Quốc Hội khóa III đã bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước, Tôn Đức Thắng làm phó Chủ tịch nước, Trường Chinh giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Phạm Văn Đồng giữ chức vụ Thủ thủ tướng Chính phủ.
Những thắng lợi trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I (1961 - 1965) đã tạo cho miền Bắc một cơ sở kinh tế, chính trị vững chắc để chống lại âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc của Mĩ và chi viện cho miền Nam.
5. Miền Nam chiến đấu chống "Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ (1961 - 1965)
5.1. Mĩ tiến hành chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam
5.1.1. Âm mưu chiến lược mới của Mĩ – “chiến tranh đặc biệt”
Sau phong trào Đồng Khởi, cuộc chiến tranh đơn phương[10] của Mĩ – Diệm (1954 - 1960) hoàn toàn thất bại, Mĩ – Ngụy phải đối mặt với một thực tế là phong trào cách mạng miền Nam đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ.
Để tránh thất bại hoàn toàn ở miền Nam, năm 1961, Ken – nơ – đi đã chuyển sang thực hiện một chiến lược chiến tranh mới – “chiến tranh đặc biệt”.
Đây là hình thức chiến tranh xâm lược kiểu mới của Mĩ được tiến hành bằng quân đội tay sai dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn quân sự Mĩ, dựa vào vũ khí, trang thiết bị kĩ thuật và phương tiện chiến tranh hiện đại của Mĩ nhằm chống lại lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Thực chất đây là âm mưu dùng người Việt đánh người Việt của Mĩ.
Ngày 29/4/1961, Hội đồng an ninh quốc gia Mĩ đã phê duyệt “chương trình hành động của Mĩ ở Việt Nam”. Sau đó, Giôn – xơn được cử sang thị sát tình hình miền Nam Việt Nam và kí với Ngô Đình Diệm bản tuyên bố chung 8 điểm, nội dung của bản tuyên bố này là Mĩ tăng cường viện trợ quân sự, tăng thêm vũ khi, chuyên gia quân sự… Sau chuyến đi của Giôn – xơn, tổng thống Ken – nơ – đi đã cử phái đoàn hỗn hợp quân sự - kinh tế do Sta – lây dẫn đầu sang nghiên cứu để xây dựng kế hoạch can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Kế hoạch của Sta – lây sau đó được Tay – lo bổ sung hoàn chỉnh thành kế hoạch Sta-lây – Tay-lo gồm có 3 bước:
Bước 1: Bình định miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng (bắt đầu từ giữa năm 1961 và kết thúc vào cuối năm 1962), tập trung dân vào 16.000 ấp chiến lược, đồng thời gây dựng cơ sở gián điệp ở miền Bắc.
Bước 2: trong năm 1963, tập trung khôi phục nền kinh tế miền Nam, tiếp tục hoàn tất chương trình bình định, tăng cường thêm quân đội Sài Gòn, tiến hành các hoạt động gây rối, phá hoại miền Bắc.
Bước 3: tập trung phát triển kinh tế miền Nam và tấn công miền Bắc. Trong ba bước trên, Mĩ xác định bước 1 là quan trọng nhất. [37: 156].
5.1.2. Mĩ – Ngụy triển khai thực hiện kế hoạch Sta-lây – Tay-lo
Để thực hiện kế hoạch như dự kiến, Mĩ đã tăng cường viện trợ tài chính cho chính quyền Ngô Đình Diệm để đẩy mạnh xây dựng quân đội Sài Gòn[11]. Bên cạnh đó, năm 1962, Mĩ còn đưa vào miền Nam khoảng 500 máy bay, trong đó chủ yếu là trực thăng để thực hiện các chiến thuật tác chiến mới.
Nhờ vào viện trợ của Mĩ, chính quyền ngụy đã nhanh chóng nâng quân số chính quy từ 15 vạn vào năm 1960 lên đến 36,2 vạn vào năm 1962; đến cuối năm 1964 quân số ngụy tăng đến 56 vạn; bên cạnh đó còn có 17,4 vạn quân bảo an và 128 đội dân vệ ở khắp các ấp, xã[37: 156].
Vũ khí và phương tiện chiến tranh của lực lượng ngụy quân trong giai đoạn này cũng được hiện đại hóa: Mĩ trang bị cho ngụy quân những loại vũ khí hiện đại, máy bay, xe thiết giáp, phương tiện thông tin hiện đại, cho phép chúng triển khai các chiến thuật chiến tranh hiện đại: “trực thăng vận”, “thiết xa vận”[12].
Bên cạnh đó, Mĩ còn đưa lực lượng cố vấn quân sự và hỗ trợ chiến tranh vào miền Nam Việt Nam với số lượng ngày càng lớn nhằm đảm nhiệm vai trò chỉ huy cuộc chiến chống lại cách mạng và nhân dân miền Nam[13].
Ngày 08/02/1962, Mĩ thành lập Bộ chỉ huy quân sự MACV (Militari Assistance Command Vietnam) tại Sài Gòn để điều hành, chỉ huy quân Mĩ – Ngụy.
Dựa vào sự hỗ trợ và chỉ huy của cố vấn Mĩ, Ngụy liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng; tiến hành nhiều họat động phá hoại miền Bắc, kiểm soát, phong tỏa biên giới, vùng biển để ngăn chăn sự tiếp viện của miền Bắc vào miền Nam.
Cùng với việc càn quét, Mĩ – ngụy ráo riết tiến hành dồn dân, lập “ấp chiến lược[14] để tách lực lượng cách mạng khỏi quần chúng. Thực chất đây là một cuộc chiến tranh tổng lực trên tất cả các mặt kinh tế, quân sự, xã hội… nhằm tiêu diệt các cơ sở cách mạng ở nông thôn.
Ngày 19/10/1961, tuyên bố tình trạng khẩn cấp, kéo dài thêm thời hạn quân dịch, tiến hành các cuộc hành quân càn quét, dồn dân với sự hỗ trợ của các chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận”.
Năm 1962, quân Mĩ – Ngụy đã mở 20 chiến dịch lớn đánh vào vùng giải phóng nhằm tiêu diệt lực lượng du kích của ta và dồn dân vào các ấp chiến lược.
Nghiêm trọng hơn, Mĩ đã dùng chất độc hóa học để phát quang các vùng căn cứ cách mạng, đường hành lang dọc theo dãy Trường Sơn[15] và nhiều căn cứ cách mạng khác – nơi chúng không thể hành quân càng quét được.
5.2. Chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ
5.2.1. Hoàn chỉnh về tổ chức và chủ trương lãnh đạo cách mạng
Hội nghị Bộ chính trị Trung ương Đảng tháng 01/1961 đã ra nghị quyết nêu rõ: “thời kì tạm ổn định của chế độ Mĩ – Diệm đã chấm dứt và thời kì khủng hoảng triền miên bắt đầu; các hình thái du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần đã xuất hiện, mở đầu cho một cao trào cách mạng ở miền Nam”[7: 60] và đề ra phương hướng đối phó bằng cách phải tiến hành một “cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa của nhân dân để lật đổ chính quyền Mĩ – Diệm, để giải phóng miền Nam”[7: 60].
Để thực hiện được những nhiệm vụ mới, Bộ Chính trị đã chủ trương đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng chính trị quân sự và đoàn kết nhân dân miền Nam dưới Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong năm 1961 và 1962, nhiều tổ chức chính trị, quân sự và đoàn thể đã được thành lập:
Đến cuối năm 1962, Mặt trận dân tộc giải phóng đã có trên 20 tổ chức chính trị lớn[16] với một lực lượng quần chúng tham gia đông đảo.
Tháng 01/1961, Trung ương cục miền Nam thành lập thay cho Xứ ủy Nam bộ cũ. Ngày 15/02/1961, các lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam đã thống nhất thành quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Đến ngày 01/01/1962, Đảng nhân dân cách mạng Việt Nam thành lập và trở thành một bộ phận của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ngày 16 tháng 2 năm 1962, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã họp đại hội lần thứ nhất. Đại hội đã bầu Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch và đề ra 4 chủ trương cứu nước:
1. Đế quốc Mĩ phải đình chỉ chiến tranh xâm lược miền Nam.
2. Giải tán các ấp chiến lược.
3. Thành lập ở miền Nam một chính phủ liên hiệp dân tộc.
4. Tiến hành đường lối đối ngoại hòa bình trung lập.
Cũng trong tháng 2 năm 1962, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết về nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam, trong đó nêu rõ: “cần phải đấu mạnh đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, củng cố và mở rộng căn cứ địa[17], giành và giữ thế chủ động, tích cực xây dựng lực lượng về mọi mặt…, phá cho kì được ấp chiến lược”, coi đây là công tác cấp bách đồng thời là nhiệm vụ lâu dài, đẩy cách mạng miền Nam tiến lên một bước mới. Kế hoạch quân sự năm 1962 là phá cho kì được “chương trình bình định 18 tháng” của Mĩ – Diệm”.[37: 159]
5.2.2. Đánh bại kế hoạch Sta-lây – Tay-lo (1961 – 1963)
5.2.2.1. Trên mặt trận chính trị
Tháng 3 năm 1962, nhân dân 6 tỉnh Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Biên Hòa, Tây Ninh, Gia Định nổi dậy cùng lực lượng vũ trang đánh trả quyết liệt cuộc hành quân của 8000 quân Diệm; cuộc đấu tranh kéo dài 3 tháng. Địch đã xả súng vào đoàn người biểu tình, sát hại hơn 500 người và bắt đi hơn 1300 người, đốt hàng ngàn ngôi nhà.
Ngày 8/5/1963, 20.000 tăng ni, phật tử ở Huế biểu tình phản đối chính quyền Diệm cấm treo cờ phật, chính quyền Diệm đàn áp làm cho phong trào lan rộng khắp cả nước. Ngày 11/6/1963, tại Sài Gòn, hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu để phản đối chính quyền Diệm đàn áp Phật giáo.
Ngày 16/6/1963, 70 vạn quần chúng Sài Gòn lại biểu tình làm cho chế độ Mĩ - Diệm lay chuyển.
5.2.2.2. Trên mặt trận chống phá “bình định”

Cuộc đấu tranh giữa ta và địch trong việc lập, phá ấp chiến lược rất quyết liệt:

Đầu tháng 2 năm 1962, 9 tiểu đoàn địch đánh vào U Minh để dồn 60.000 dân vào ấp chiến lược, nhân dân ở đây đã kéo đến trụ sở chính quyền ngụy để đấu tranh đòi chấm dứt càn quét.

Tháng 4/1962, hơn 10.000 quần chúng nhân dân tỉnh Gò Công (nay thuộc Tiền Giang) đã kéo vào thị xã và các trung tâm hành chính các huyện, xã bao vây chính quyền địch, đấu tranh đòi bãi bỏ lệnh gom dân lập ấp chiến lược. Trước sức ép của nhân dân, chính quyền địch ở đây đã nhượng bộ và chấp nhận một số yêu sách của nhân dân. Ngày 12/4/1962, khoảng 3 vạn đồng bào tỉnh Mĩ Tho (nay thuộc Tiền Giang) đã nổi dậy phá tan nhiều “ấp chiến lược”.

Trước phong trào đấu tranh của quần chúng, địch đã phản công quyết liệt gây tổn thất nặng nề cho quần chúng nhân dân: chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 1962, 36.000 người thiệt mạng.[28: 185] Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, địch đã gom gần 2 triệu dân vào các ấp chiến lược, đẩy lực lượng du kích và các cán bộ cách mạng đứng trước nguy cơ không còn chỗ đứng chân.

Mặc dù vậy, nhân dân ta vẫn đấu tranh quyết liệt, đến cuối năm 1962, trên toàn miền Nam có 2665 ấp chiến lược bị phá, 115 ấp được xây thành làng chiến đấu, giải phóng hoàn toàn 6,5/14 triệu dân.[37: 160]

Trong năm 1963, trên toàn miền Nam có 23 triệu lượt người tham gia chống địch càn quét, gom dân lập ấp chiến lược; ta đã phá 2.895 ấp chiến lược (trong tổng số 6.164 ấp do địch lập ra), giải phóng 12.000 thôn, ấp.[37: 162]
5.2.2.3. Trên mặt trận quân sự

Đầu năm 1962, lực lượng vũ trang ở Khu V đã tiến công tiêu diệt quận lị Trà Mi (Quảng Nam), Trà Bồng (Quảng Ngãi) và các cứ điểm Định Quang, Hương Nhơn (Bình Định), An Lĩnh, Hòn Ngang (Phú Yên), Hữu Đức, Từ Lâm (Ninh Thuận). Năm 1962, quân giải phóng cùng với nhân dân đã liên tiếp đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét của ngụy vào chiến khu Đ, phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn…; đặc biệt là sự kiện ngày 26/6/1962, các chiến sĩ biệt động của ta đã đánh kho xăng sân bay Tân Sơn Nhất đốt cháy hàng triệu lít xăng gây chấn động chính trường miền Nam lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, do chưa có kinh nghiệm đối phó với những chiến thuật quân sự mới của địch (“trực thăng vận” và “thiết xa vận”) và chưa kết hợp giữa quân sự với chính trị trong tiến công kẻ thù nên phong trào đấu tranh gặp khó khăn và tổn thất khá lớn.
Trước tình hình đó, Trung ương cục miền Nam và Bộ tư lệnh quân giải phóng đã tổng kết và phổ biến kinh nghiệm cho các địa phương và thực hiện phương châm “hai chân, ba mũi” – chính trị - quân sự và chính trị - quân sự - binh vận. Đồng thời sau khi lực lượng quân giải phóng được thành lập, công tác tổ chức và huấn luyện quân đội được chú trọng, miền Bắc cũng tăng cường chi viện cho miền Nam. Nhờ những biện pháp kịp thời đó, phong trào cách mạng bắt đầu dần dần phục hồi và phát triển.
Trong 3 tháng cuối năm 1962, lực lượng vũ trang các tỉnh Cà Mau, Mĩ Tho, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, Tây Ninh, Bình Dương phối hợp với bộ đội miền và du kích liên tục đánh bại nhiều cuộc tấn công của địch. Tại Liên khu V, lực lượng cách mạng ở Bình Thuận, Quảng Nam đã giành được nhiều thắng lợi. Những thắng lợi của ta ở miền Nam đã đẩy địch vào tình trạng bế tắc. Ngày 22/12/1962, Tổng thống Ken – nơ – đi phải thừa nhận rằng cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn “đang ở trong đường hầm chưa thấy lối ra”.
Mặc dù vậy, sang đến năm 1963, các cuộc hành quân cơ động, chớp nhoáng nhờ chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” của địch vẫn là một thách thức lớn đối với cách mạng.
Tháng 01/1963, quân dân miền Nam đã giành chiến thắng vang dội ở Ấp Bắc – Mĩ Tho. Với lực lượng ít hơn địch 10 lần, ta đã đánh bại cuộc hành quân càn quét của hơn 20.000 quân ngụy dưới sự chỉ huy của cố vấn Mĩ và hỗ trợ của pháo binh, xe bọc thép và máy bay lên thẳng; diệt 450 tên (9 cố vấn quân sự Mĩ), 16 máy bay lên thẳng, 3 xe bọc thép và một tàu chiến[18].
Chiến thắng Ấp Bắc chứng tỏ quân dân miền Nam có khả năng đánh bại hoàn toàn chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến thuật “thiết xa vận”, “trực thăng vận” của Mĩ – Ngụy.
Sau chiến thắng Ấp Bắc, Trung ương cục đã phát động phong trào “thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” trên khắp miền Nam nhằm tiến lên từng bước đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ – Ngụy.
Những thắng lợi của ta trên mặt trận quân sư, chính trị đã làm cho mâu thuẫn nội bộ chính quyền ngụy trở nên sâu sắc và Mĩ nhận thấy Ngô Đình Diệm với nền chính trị độc tài không thể giúp Mĩ trong cuộc xâm lược Việt Nam. Và Mĩ đã quyết định “thay ngựa giữa đường”. Ngày 01/11/1963, Mĩ đã ủng hộ nhóm tướng lĩnh ngụy do tướng Dương Văn Minh cầm đầu làm đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Cuối cùng, nền “đệ nhất cộng hòa” với học thuyết “cần lao nhân vị” do Mĩ dựng lên đã hoàn toàn sụp đổ; kế hoạch Sta-lây – Tay-lo nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng với quốc sách “ấp chiến lược” của Mĩ bị phá sản.
5.2.3. Đánh bại kế hoạch Giôn-xơn – Mc. Na-ma-ra (1964 – 1965)
5.2.3.1. Kế hoạch Giôn-xơn – Mc. Na-ma-ra
Sau 18 tháng triển khai thực hiện kế hoạch Stalây-Taylor, Mĩ – Ngụy chỉ đạt được mục tiêu tăng cường lực lượng, biên chế, cải tiến trang bị, sắp xếp lại tổ chức cho quân đội Sài Gòn, còn lại các mục tiêu khác không đạt được như dự kiến: gom dân lập “ấp chiến lược” đạt khoảng 31,7% với 6/14 triệu dân, không tiêu diệt được lực lượng du kích và lực lượng vũ trang cách mạng.
Ngày 22/11/1963, Tổng thống Ken – nơ – đi bị ám sát, phó tổng thống Giôn – xơn lên thay. Giôn – xơn tuyên bố Mĩ sẽ tiếp tục ủng hộ và trợ giúp chính quyền Sài Gòn chống lại “chế độ cộng sản”.
Mĩ tăng cường viện trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn: tăng lực lượng pháo binh lên 1,2 lần, không quân tăng 1,5 lần, tàu chiến tăng 1,1 lần so với năm 1962; đến cuối năm 1963, lực lượng cố vấn và yểm trợ của Mĩ ở Việt Nam đã lên đến 22.000 người và năm 1964 là 26.200 người.
Giôn – xơn đã phê duyệt kế hoạch Rôx - tốp nhằm oanh tạc miền Bắc nước ta, đồng thời cử Bộ trưởng quốc phòng Mc. Na - ma - ra và Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Tay – lo sang Việt Nam thị sát tình hình và xây dựng một kế hoạch quân sự mới thay thế cho kế hoạch Stalây – Taylor.
Tháng 3 năm 1964, Giôn-xơn đã thông qua kế hoạch do Mc. Na-ma-ra đề xuất để tiếp tục thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” gọi là kế hoạch Giôn-xơn – Mc. Na-ma-ra. Nội dung của kế hoạch gồm có 5 điểm cơ bản như sau:
1. Tăng cường sự chỉ huy trực tiếp của Mĩ, hệ thống yểm trợ, hậu cần, tăng viện trợ vũ khí, trang thiết bị, kĩ thuật cho quân đội Sài Gòn.
2. Tăng quân số cho quân đội Sài Gòn.
3. Xúc tiến hơn nữa lập ấp chiến lược.
4. Ra sức bình định tập trung vào các tỉnh xung quanh Sài Gòn trong 2 năm (1964 - 1965).
5. Dùng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam và Lào, đe dọa gây sức ép buộc miền Bắc phải ngưng chi viện cho miền Nam.[28: 193]
So với kế hoạch Stalây – Taylo, kế hoạch mới này kéo dài hơn 6 tháng và mục tiêu giảm xuống chỉ bình định miền Nam có trọng điểm, chủ yếu xung quanh Sài Gòn – Gia Định.
Để thực hiện kế hoạch này, Mĩ tăng cường viện trợ về mọi mặt cho chính quyền Sài Gòn[19], huy động các đồng minh tham gia yểm trợ cho quân đội Sài Gòn và chuẩn bị tấn công miền Bắc nước ta.
Được sự giúp đỡ của Mĩ, ngày 13 tháng 2 năm 1964, Nguyễn Khánh đã ra sắc lệnh 93 tuyên bố “đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật” và hô hào “Bắc tiến”.
5.2.3.2. Kế hoạch Giôn-xơn – Mc. Na–ma-ra thất bại
Tháng 12 năm 1963, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 9 đã khẳng định phương châm của chiến tranh cách mạng miền Nam là kết hợp song song giữa đấu tranh quân sự với đầu tranh chính trị. Tháng 01 năm 1964, Đại hội lần thứ hai Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã kêu gọi quân và dân miền Nam “dốc toàn lực, thực hiện đến cùng cuộc kháng chiến toàn diện và trường kì chống đế quốc và tay sai bán nước”[Dẫn lại; 37: 163]
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương 9 và lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng, trong 2 năm 1964 – 1965, nhân dân miền Nam đã cùng với quân cách mạng đứng lên đấu tranh và giành được nhiều thắng lợi trên tất cả các mặt trận: chính trị, quân sự và chống phá bình định:
Trên mặt trận chính trị:
Phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị (Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng…) tiếp tục lên cao, đặc biệt là sau khi Nguyễn Khánh ra những sắc lệnh phát xít mới và chính quyền Ngụy sát hại anh Nguyễn Văn Trỗi (15/10/1964).
Nổi bật nhất là phong trào đấu tranh chống âm mưu thiết lập chế độ độc tài quân phiệt ở miền Nam của Nguyễn Khánh. Được sự hậu thuẫn của Mĩ, ngày 16 tháng 8 năm 1964, Nguyễn Khánh đã cho ra đời bản “Hiến chương Vũng Tàu”. Ngay sau khi bản Hiến chương này ra đời, Nguyễn Khánh đã trở thành “Chủ tịch nước Việt Nam Cộng Hòa” kiêm Thủ tướng và Chủ tịch Hội đồng quân lực.
Ngay sau đó, ngày 17 tháng 8 năm 1964, sinh viên Huế đã đấu tranh chống lại Hiến chương Vũng Tàu. Sau đó, phong trào lan rộng khắp các đô thị miền Nam. Nhân dân Sài Gòn đã biểu tình bao vây Dinh Độc Lập đòi Nguyễn Khánh từ chức.
Trước sức ép của quần chúng, Nguyễn Khánh đã thu hồi Hiến chương Vũng Tàu, giải tán Hội đồng quân lực. Chính quyền Sài Gòn liên tiếp lâm vào tình trạng rối ren, các cuộc đảo chính và thay đổi chính phủ diễn ra liên tiếp. Từ ngày 01/11/1963 đến ngày 19/6/1965, ngụy quyền Sài Gòn đã trải qua 10 cuộc đảo chính và thay đổi chính phủ lớn nhỏ khác nhau:
1. Ngày 01/11/1963, Dương Văn Minh cầm đầu Hội đồng tướng lĩnh đã làm đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm.
2. Ngày 30/01/1964, Hội đồng quân lực do Nguyễn Khánh cầm đầu đã làm đảo chính lật đổ Dương Văn Minh.
3. Ngày 27/8/1964, Nguyễn Khánh chỉnh lí giải tán Hội đồng quân lực, thiết lập “tâm đầu chế” gồm: Dương Văn Minh - Nguyễn Khánh - Trần Thượng Khiêm.
4. Ngày 13/9/1964, Lâm Văn Phát và Dương Văn Đức đảo chính bất thành.
5. Ngày 30/9/1964, Nguyễn Khánh thành lập “Thượng hội đồng” do Phan Khắc Sửu làm Chủ tịch.
6. Ngày 20/10/1964, Nguyễn Khánh làm “đảo chính bộ phận”, giải tán Thượng hội đồng.
7. Ngày 25/10/1964, dưới sức ép của Mĩ, Nguyễn Khánh phải rời khỏi chính quyền, Phan Khắc Sửu lên làm Quốc trưởng và Trần Văn Hương làm thủ tướng.
8. Ngày 27/01/1965, Nguyễn Khánh làm “đảo chính toàn bộ” giải tán chính phủ Trần Văn Hương, đưa Phan Huy Quát lên làm thủ tướng.
9. Ngày 19/2/1965, “Hội đồng quân lực” do Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu, loại Khánh ra khỏi quân đội.
10. Ngày 19/6/1965, “Hội đồng quân lực” lật đổ chính quyền của Phan Khắc Sửu và Phan Huy Quát, lập “ủy ban lãnh đạo quốc gia” do Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch và “ủy ban hành pháp trung ương” do Nguyễn Cao Kì làm chủ tịch.
Trên mặt trận chống phá “bình định” ở nông thôn:
Sau khi Ngô Đình Diệm bị giết, nhân dân khắp các tỉnh ở miền Nam đã nổi dậy phá các “ấp chiến lược”, lập chính quyền cách mạng ở nông thôn.
Trong năm 1964 và đầu năm 1965, từng mảng lớn ấp chiến lược do địch lập nên đã bị ta phá, nhiều ấp chiến lược đã trở thành căn cứ cách mạng, vùng tự do của ta ngày càng được mở rộng. Đến giữa năm 1965, số đồn bốt trực tiếp kìm kẹp nhân dân cũng bị tan rã còn lại 2900 đồn (năm 1963 là 4500 đồn); số ấp chiến lược của địch chỉ còn 1300 ấp với 5,5 triệu dân (cuối năm 1964, địch vẫn còn 3300 ấp).
Trên mặt trận quân sự:
Trong nửa đầu năm 1960, quân và dân miền Nam đã liên tiếp tấn công địch trên khắp chiến trường miền Nam: chiến thắng Thạnh Phú - Bến Tre (01/1964), tập kích trại sĩ quan Mĩ tại Kontum (02/02/1964), tiêu diệt chi khu quân sự Vĩnh Thuận - tỉnh Rạch Giá (4/1964), đánh chìm tàu sân bay Cader ở Sài Gòn (2/5/1964)…
Tháng 8 năm 1964, lực lượng của ta đã đánh sập khách sạn Caraven diệt hàng chục tên Mĩ; tháng 12/1964, đánh mìn khách sạn Brink làm chết và bị thương 68 sĩ quan Mĩ.
Kết hợp với đấu tranh chính trị, cuối năm 1964 đầu năm 1965, quân dân Đông Nam Bộ mở chiến dịch tiến công Đông – Xuân 1964 -1965:
Ngày 02/12/1964, bộ đội chính quy và quân địa phương đã phối hợp tấn công vào “ấp chiến lược” Bình Giã (tỉnh Bà Rịa). Sau 6 ngày đêm tấn công, ta đã tiêu diệt 1700 tên (trong đó có 60 cố vấn quân sự Mĩ)[3: 234], phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.
Sau chiến thắng Bình Giã, quân ta đẩy mạnh cuộc tiến công xuân – hè 1965 và liên tiếp giành được thắng lợi ở An Lão - Bình Định (12/1964), Ba Gia - Quảng Ngãi (6/1965), Đồng Xoài - Biên Hòa (6/1965). Từng đơn vị lớn của địch đã bị ta tiêu diệt hoặc làm cho tổn thất lớn, quân đội Sài Gòn không còn đủ sức đương đầu với các cuộc tấn công lớn của quân giải phóng; âm mưu sử dụng quân đội Sài Gòn làm nòng cốt trong công tác bình định miền Nam của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ phá sản. Những chiến thắng trên của quân và dân giải phóng đã đánh dấu sự phá sản của kế hoạch Giôn xơn – Mc. Na - ma - ra.
Mc. Na – ma – ra đã báo cáo trước Nhà Trắng và Quốc hội Mĩ về kết quả sau 2 năm thực hiện kế hoạch do chính ông đề xuất như sau: “Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã không còn đủ sức chiến đấu, chế độ Sài Gòn đã thất bại”.[28: 199] Nội dung của bản báo đó chính là lời thừa nhận thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ ở Việt Nam.

BÀI TẬP:
1. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã họp trong hoàn cảnh như thế nào? Nội dung và ý nghĩa?
2. Miền Bắc đạt được những thành tựu gì trong thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961 -1965)? Ý nghĩa của những thành tựu đạt được?
3. Chứng minh nhận định của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong "Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt" ngày 27-3-1964: "Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới".
4. Tiến hành chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam (1961 - 1965), đế quốc Mĩ thực hiện âm mưu và dùng thủ đoạn gì?
5. Quân dân ta ở miền Nam chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mĩ và đã giành được thắng lợi như thế nào? Ý nghĩa của thắng lợi đó?


[1],2 Tháng 02 năm 1956, tại Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng Sản Liên Xô, Khrushchev đã đưa ra một kế hoạch xây dựng kinh tế hết sức lớn lao nhằm đuổi kịp và vượt Mĩ trong một thời gian ngắn (khoảng 15 năm). Để có thể dồn sức cho kế hoạch này, Khrushchev cho rằng cần phải có một nền hoà bình vững chắc, mà trong điều kiện so sánh lực lượng lúc đó, không gì khác hơn là hoà dịu Xô – Mĩ và cần tiến hành một số cải cách trong nước. Phát xuât từ ý định đó, Khrushchev đưa ra hai luận điểm:
  Chống tệ sùng bái cá nhân Stalin.
  Cùng tồn tại hoà bình, thi đua hoà bình giữa hai hệ thống thế giới và quá độ hoà bình từ Chủ nghĩa Tư bản chuyển sang chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đường lối hoà hoãn giữa Mĩ và Liên Xô trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng trên thế giới; trong đó có Việt Nam.

[2] Lực lượng Bình Xuyên do Bảy Viễn cầm đầu đang khống chế Sài Gòn và các vùng phụ cận với lực lượng trên dưới 1 vạn quân (5.000 đến 8.000 cảnh sát, 2.500 bính lính được vũ trang).
[3] Đây là lực lượng có vũ trang đang chiếm giữ vùng Tây Bắc Sài Gòn (từ 15.000 đến 20.000 quân).
[4] Khoảng 10.000 đến 15.000 quân) đang chiếm giữ nhiều khu vực ở Đồng Bằng sông Cửu Long. “Tín đồ Hoà Hảo đa số là nông dân, đông nhất ở vùng Long Xuyên, Châu Đốc (độ 500.000). Bộ đội Hoà Hảo trong kháng chiến theo Pháp đánh với ta. Đồng bào Hoà Hảo một thời gian cũng chống ta gay gắt về sau quan hệ với ta được cải thiện dần nhưng cơ sở của ta trong vùng Hoà Hảo còn rất ít”[Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2005, tập 20, trang 37 – 41].
[5] Thông thường mỗi đợt tố cộng, chúng thường thực hiện các bước cơ bản sau:
Bước 1: Phân loại nhân dân. Tùy theo mức độ thân sơ của người dân với cách mạng mà chúng xếp thành 3 loại: Gia đình loại A: Là những gia đình kháng chiến cũ, gia đình có người tham gia tập kết, những người yêu nước thiết tha với hoà bình độc lập, thống nhất mà địch gọi chung là Việt cộng. Chúng coi đây là những gia đình bất hợp pháp và bắt phải treo biển đỏ - cộng sản trước nhà để tiện cho việc kiểm soát; Gia đình loại B: là nhưng gia đình có họ hàng thân thuộc với những gia đình loại A hoặc có những mối quan hệ nhất định với cách mạng. Chúng coi đây là những gia đình “nửa hợp pháp” và bắt phải treo biển vàng – thân cộng; Gia đình loại C: là những người không có liên hệ với cộng sản và những người ủng hộ chính quyền Diệm. Những gia đình này được chính quyền Diệm coi là hợp pháp và treo biển xanh trước nhà.
Bước 2: Trên cơ sở phân loại nhân dân, chúng mở các lớp học tập với những nội dung phù hợp từng đối tượng kết hợp tuyên truyền xuyên tạc sự thật, nói xấu cách mạng, gây tâm lí hoài nghi trong nhân dân.
Bước 3: tổ chức các buổi tố cộng, bắt mọi người phải tố giác cộng sản (kể cả người thân trong gia đình) xé cờ Đảng, đốt ảnh Bác Hồ, tuyên bố li khai Đảng. Ai không làm, chúng cho là phản quốc.
[6] Nhân ngày ngừng bắn ở Nam bộ (01/8/1954), 50.000 đồng bào Sài Gòn – Chợ Lớn, phần lớn là công nhân nhà đèn, bến cảng và các tầng lớp tiểu thương, tri thức, học sinh, quần chúng lao động, đã xuống đường biểu tình mừng hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Giơ – ne – vơ. Tại Đà Nẵng có 25.000 người, tại Huế có 15.000 người tham gia biểu tình mừng hòa bình.
Cũng trong ngày 01/8/1954, được sự chỉ đạo của Khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn, các đại biểu tri thức và lao động đã thành lập “phong trào hòa bình Sài Gòn – Chợ Lớn”, ra tuyên bố nêu rõ tôn chỉ, mục đích của phong trào là đấu tranh cho hòa bình ở Đông Dương được củng cố, quyền tự do dân chủ được đảm bảo, nước Việt Nam được thống nhất bằng tổng tuyển cử tự do trong cả nước.
Tại Sài Gòn, phong trào lan rộng ra Đà Nẵng, Huế. Phong trào thu hút nhiều tri thức tên tuổi tham gia, như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, giáo sư Phạm Huy Thông, Nguyễn Văn Dưỡng, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, bác sĩ Lê Khắc Khuyến, Võ Đình Cường,…(Trần Bá Đệ (Chủ biên, Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945 – 1975, Nxb ĐHSP, HN, 2007, Trang 138).
[7] Về nguồn gốc của từ “Đồng Khởi”, theo nữ tướng Nguyễn Thị Định, trong Hội nghị của thường vụ tỉnh ủy Bến Tre ngày 02/01/1960 nhằm quán triệt Nghị quyết 15 của Trung ương mới xuất hiện. Trong hồi kí của mình, Bà viết: “về hai chữ Đồng Khởi, đến hội nghị này mới thành hẳn tên gọi. Khi tôi lên họp Hội nghị Khu ủy (Khu 8 - tg), các anh cũng chưa đặt ra. Và sau đó cũng không phải riêng một người nào đề xuất cả.
Trong hội nghị này, thảo luận hết, ai cũng nói cả, tới khi tôi gom lại ý kiến kết luận phát động một tuần lễ toàn dân Đồng Khởi thì các đồng chí đều nhất trí. Thế là thành tên gọi chính thức. Thật ra, hai chữ Đồng Khởi riêng trong đầu óc tôi vẫn liên tưởng từ cuộc khởi nghĩa cách mạng tháng Tám mà ra. Ngụ ý là phải nhất tề nổi dậy một lượt như khởi nghĩa tháng Tám mới thắng được.
(Nguyễn Thị Định, Không còn con đường nào khác - hồi kí, Trần Hương Nam ghi, Nxb Văn học Giải phóng, Gia Định, 1976, trang 120)
[8] Ngày 25/9/1959, ban chỉ huy tiểu đoàn 502 đang đóng quân tại Giồng Thị Đam (Tân Hộ Cơ - Hồng Ngự), điều đại đội Bảy Phú (Thanh Bình) cùng một bán đội của đại đội Năm Bình về đây chuẩn bị mở đợt hoạt động trên tuyến sông Sở Hạ. Lực lượng này có 42 đồng chí, trang bị 35 khẩu súng (có 3 trung liên).
Không ngờ trong thời điểm này, quân khu 5 của địch điều 2 tiểu đoàn của trung đoàn 42 thuộc sư đòan 23 bộ binh ngụy và một giang lực gồm một tàu LCM, hai tàu Phum định đánh diệt quân giải phóng tại căn cứ Hồng Ngự và bảo về công trình kênh đào An Long.
Sáng sớm 26/9/1959, đại đội Bảy Phú và phân đội của đại đội Năm Bình đã có mặt ở Giồng Thị Đam. Vào khoảng 9 giờ 30 phút, trinh sát của ta phát hiện có địch hành quân bằng xuồng trên đường cộ cặp theo giồng Giàng. Lúc đầu ta tưởng là Bảo an, dân vệ; nhưng khi đến gần, mới biết là quân chủ lực. Chỉ huy tiểu đoàn 502 - tiểu đoàn trưởng Tám Dần và chính trị viên Sáu Chung cân nhắc tình hình địch và địa hình đã quyết định đánh giặc dù ta ít, địch lại quá đông. Tiểu đoàn trưởng Tám Dần chỉ huy trận đánh.
Chỉ sau 20 phút chiến đấu, ta đã đánh chìm toàn bộ 83 xuồng địch, bắt sống 75 tên; thu 7 trung liên, 39 tiểu liên, 49 súng trường tự động Mĩ, 4 súng phóng lựu, 6 súng ngắn, 7 máy thông tin PRC10, 83 chiếc xuồng và nhiều quân trang, quân dụng khác. Phía ta có một đồng chí hy sinh và hai bị thương.
Qua khai thác tên Phán, ta biết được địch còn có một cánh quân khác là tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 42 của địch đang theo hướng An Phong lên Hồng Ngự và cũng sẽ đi qua vùng này; ta đã nhanh chóng chuẩn bị cho trận đánh thứ hai:
Khoảng 14 giờ, tiểu đoàn 2 của địch từ An Phong đi về hướng Gò Quản Cung. Với súng đạn vừa thu được của địch, ta đặt 10 khẩu trung liên trên gò. Đợi đến khi xuồng địch vào cách gò khoảng 150 mét, ta đồng loạt nổ súng làm cho địch bị thương vong lớn. 17 xuồng còn lại đã tháo chạy (Theo cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (trang 65), địch chỉ còn lại 3 thuyền chạy thoát.); ta bắt thêm 30 tù binh, thu thêm 20 súng, 2 máy vô tuyến điện. Phía ta có thêm một đồng chí bị thương.
[9] Tua Hai nằm trên Quốc lộ 22 cách thị xã Tây Ninh 7km về phía Bắc (nay thuộc xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, Tỉnh Tây Ninh). Đây là căn cứ quân sự quan trọng của Trung đoàn 32 thuộc sư đoàn 21 chủ lực của Ngụy. Đối với địch, đây vừa là trung tâm huấn luyện, vừa là kho vũ khí được bảo vệ nghiêm ngặt, cũng là nơi tập trung lực lượng càn quét chống phá tiêu diệt lực lượng của ta. Nhưng đối với ta, đây là nơi có nhiều nội tuyến nhất. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy, Tỉnh ủy Tây Ninh quyết định huy động lực lượng tấn công vào Tua Hai. Mục tiêu của ta là giành thắng lợi, lấy vũ khí để trang bị cho ta, gây tiếng vang lớn cho phong trào đấu tranh vũ trang ở Đông Nam bộ. Với phương châm chiến lược "bí mật, bất ngờ, đánh nhanh, rút gọn", 0 giờ 30 phút ngày 26/01/1960, quân và dân Tây Ninh gồm 225 cán bộ chiến sĩ, một đội cứu thương và 300 dân công dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến đã bất ngờ tấn công căn cứ Tua Hai của địch. Do bị đánh bất ngờ trong đêm tối, địch hốt hoảng và rối loạn. Ta chiếm được kho súng và làm chủ trận địa. Đến 3 giờ 30 phút ngày 26/01/1960, quân ta rút khỏi Tua Hai để bảo toàn lực lượng.
[10] Chiến tranh đơn phương hay còn gọi là chiến tranh một phía: là chiến lược can thiệp và xâm lược (về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa) của đế quốc Mĩ ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1960. Trong chiến lược này, Mĩ không đưa quân đội trực tiếp tham chiến mà thực hiện sự thống trị bằng hệ thống cố vấn quân sự.

Chúng ta gọi là “chiến tranh đơn phương” là để tố cáo chính sách can thiệp và xâm lược “gián tiếp” của Mĩ ở miền Nam, tố cáo Mĩ – Diệm dùng chính sách vũ lực chống lại nhân dân miền Nam yêu chuộng hòa bình, thống nhất nước nhà. [Trần Bá Đệ (Chủ biên) (2007), Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945 - 1975, Nxb ĐHSP, HN, trang 288]

[11] Mĩ tăng cường viện trợ tài chính để nâng số quân ngụy đạt tới ưu thế 20 chọi 1. Viện trợ Mĩ tăng dần, từ 321,7 triệu đô la (trong đó có 80 triệu đô la vũ khí) trong tài khóa 1961 – 1962 đã lên tới 675 triệu đô la (trong đó có 100 triệu vũ khí) trong tài khóa 1962 – 1963.
[12] Trực thăng vận là chiến thuật quân sự của Hoa Kì, dùng máy bay lên thẳng để vận chuyển nhanh chóng các đơn vị tác chiến đánh bất ngờ đối phương.
Thiết xa vận là một chiến thuật quân sự của Mĩ được sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, dùng thiết giáp nước để vận chuyển nhanh chóng các đơn vị tác chiến đánh bất ngờ đối phương.
[13] Tháng 3 năm 1961, Mĩ đưa vào miền Nam hơn 400 lính thuộc lực lượng đặc biệt và 100 cố vấn quân sự, 1600 chuyên gia quân sự giúp chính quyền Ngô Đình Diệm mở rộng và cải tạo quân đội ngụy, đưa tổng số quân Mĩ ở miền Nam tăng lên không ngừng: Năm 1960: 1.077 người; năm 1962: 10.960 người; năm 1963: 22.000 người. [Trần Bá Đệ (Chủ biên) (2007), Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945 - 1975, Nxb ĐHSP, HN, trang 288].
[14] Ấp chiến lược là một kiểu trại tập trung của Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam tại vùng do chúng kiểm soát từ năm 1954 đến năm 1975. Ấp chiến lực được xây dựng, canh phòng nghiêm ngặt nhằm dồn dân sóng tập trung, tách dân khỏi cách mạng, rồi đẩy họ đến chỗ chống lại cách mạng
[15] Đường Trường Sơn được mở từ tháng 5/1959, chạy dài theo dãy núi Trường Sơn, bao gồm cả đường bộ và đường sông. Đây là con đường chiến lược quan trọng nhất của ta trong kháng chiến chống Mỹ. Ngoài hai trục đường lớn chạy dọc sườn Đông và sườn Tây Trường Sơn còn có những đường vắt ngang qua dãy núi. Trước khi Hiệp định Pa - ri kí kết, trục đường chính chủ yếu là ở phía sườn Tây Trường Sơn thuộc lãnh thổ lào và Campuchia. Sau Hiệp định Pa - ri, trục phía Đông mới được mở rộng và nâng cấp.
Từ năm 1959 đến 1975, Bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển được gần 1.400.000 tấn hàng hóa, vũ khí, trong đó cho các chiến trường và cách mạng Lào. Campuchia hơn 583.000 tấn; 5.500.000 m3 xăng dầu, bảo đảm hành quân cơ động, tiêu thụ trên tuyến và tổn thất trên đường vận chuyển hơn 765.000 tấn. Để giao được 1.000 tấn hàng, bộ đội Trường Sơn bị tổn thất trung bình: 57 người bị thương, 21 người hy sinh, 25 xe ô tô và 143 tấn hàng bị phá hủy. Các số liệu được lấy từ: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1954 – 1975: thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, HN, 2000.].
[16] Các tổ chức chính trị chính như: Hội lao động giải phóng, Hội nông dân giải phóng, Hội liên hiệp thanh niên giải phóng, Hội phụ nữ giải phóng, Hội liên hiệp sinh viên – học sinh giải phóng, Hội văn nghệ giải phóng, Hội nhà báo yêu nước và dân chủ, Hội luật gia dân chủ, Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng, Hội những người kháng chiến cũ, Nhóm công thương gia chống Mĩ – Diệm, Nhóm binh sĩ trở về với nhân dân đấu tranh chống Mĩ – Diệm, Nhóm những người đấu tranh cho hòa bình, thống nhất, độc lập của tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra còn có các hội của các tín đồ tôn giáo yêu nước như: Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, các đảng cấp tiến của tiểu tư sản và tư sản yêu nước như: Đảng xã hội cấp tiến, Đảng dân chủ…
[17] Là khu vực lãnh thổ có đầy đủ các yếu tố “địa lợi, nhân hòa”, “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, có cơ sở vững chắc về chính trị và quân sự, được dùng làm nơi xây dựng lực lượng cách mạng (lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang), để từ đó phát triển rộng ra các nơi khác; là nơi cung cấp sức mạnh vật chất, quân sự, nguồn cổ vũ về tinh thần, chính trị trong cách mạng và trong kháng chiến. [Trần Bá Đệ (Chủ biên) (2007), Gtrình Lịch sử Việt Nam 1945 - 1975, Nxb ĐHSP, HN, trang 287]
[18] Ấp Bắc gồm hai ấp nhỏ là Tân Bình và Tân Thới, xã Tân Phú Trung, quận Cai Lậy tỉnh Mĩ Tho (tỉnh Tiền Giang ngày nay). Xung quanh Ấp Bắc là cánh đồng ruộng có hệ thống đường đất, kênh rạch nối liền các thôn ấp nên việc đi lại khá thuận lợi. Cách chừng 3 đến 4 Km về phía Nam là quốc lộ 4 (nay là QL 1A), về phía tây khoảng 6 Km là con lộ 12, phía Bắc và Đông cách kênh Nguyễn Văn Tiếp và Nguyễn Tấn Thành khoảng từ 2 đến 3 Km. Nhân dân đã xây dựng ấp thành một hệ thống phòng thủ gồm hầm hào chiến đấu cho bộ đội và du kích thực hành tác chiến thắng lợi. Đây là nơi có phong trào quần chúng mạnh, trở thành một trong những xã căn cứ của tỉnh Mĩ Tho.
Lực lượng của ta chỉ có 1 đại đội tăng cường thuộc tiểu đoàn 261 chủ lực khu VIII, một đại đội bộ đội địa phương tỉnh Mĩ Tho, một trung đội trợ chiến, một trung đội địa phương huyện Châu Thành, cùng lực lượng dân quân du kích tại chỗ, do tiểu đoàn trưởng Hai Hoàng (Nguyễn Văn Điều) chỉ huy.
Địch đã huy động một lực lượng lớn gồm 3 tiểu đoàn của sư đoàn 7 thuộc vùng 4 chiến thuật, một chiến đoàn bảo an tỉnh Định Tường, một tiểu đoàn du thuộc lực lượng dự bị chiến lược Bộ tham mưu quân đội Sài Gòn, một số đại đội biết kích, dân vệ và 51 cố vấn Mĩ. Hỗ trợ cho lực lượng này có 3 tàu chiến bao vây ở hướng Đông Bắc, một chi đoàn thiết giáp lội nước M113 chở quân đột phá, 15 trực thăng và 7 máy bay vận tải C.123 chở quân đổ bộ và quân dù, 5 trực thăng vũ trang có gắn súng liên thanh và các dàn hỏa tiển chi viện hỏa lực, 8 máy bay ném bom, 4 chiến L19 làm nhiệm vụ trinh sát và chỉ huy, hàng chục khẩu pháo, cối yểm trợ hành quân và đánh phá mục tiêu…
Với tỉ lệ so sánh lực lượng giữa ta và địch là 1/10, theo đúng chiế thuật “bủa lưới phóng dao”, địch cho không quân, pháo binh bắn phá dọn đường, các mũi bộ binh, lính dù, xe bọc thép, tàu chiến trên sông đồng loạt tiến công vào Ấp Bắc. Với hàng vạn tấn bom, trên 4000 quả đạn pháo, 20.000 lính thủy – lục – không quân tấn công vào một ấp nhỏ bé, hy vọng đè bẹp được sự chống cự của quân ta, tiêu diệt bắt gọn bộ đội chủ lực của ta.
Lực lượng của ta đã đánh trận địa kết hợp với đánh du kích, tiến công với phản công và phòng ngự, buộc chúng phải chấm dứt cuộc hành quân với những tổn thất nặng nề: 450 tên (có 9 cố vấn quân sự Mĩ) thiệt mạng, 16 máy bay lên thẳng, 3 xe bọc thép và một tàu chiến bị bắn rơi và phá hủy. (Theo: Lê Hãn (Chủ biên), LSVN, tập 3, HN, 1998 và GS,TS. Hoàng Phương (Chủ biên), LSQS Việt Nam, t11,)
[19] Chúng đã tăng lực lượng quân chính quy và quân địa phương lên 561.000 người, quân chủ lực biên chế thành 9 sư đoàn, 7 trung đoàn độc lập và 20 tiểu đòan lẻ được trang bị 375 máy bay (có 100 máy bay lên thẳng), 732 xe tăng và xe bọc thép M113.
Quân địa phương gồm có 10 tiểu đoàn, 533 đại đội bảo an, 3.780 trung đội và 2570 tiểu đội dân vệ đóng rãi rác ở tất cả các xã, ấp trên toàn miền Nam. Đế quốc Mỹ tăng cường lực lượng lục quân, không quân, hải quân cho khu vực Đông Nam Á, đưa lực lượng yểm trợ quân sự và cố vấn Mỹ lên 26.200 người với 608 máy bay, gấp rút chuẩn bị để đánh phá miền Bắc Việt Nam, nhằm hỗ trợ “gây sức ép đáng kể” cho việc tiến hành “Chiến tranh đặc biệt”. Mỹ viện trợ cho chính quyền Sài Gòn năm 1963 – tới 100 triệu USD trong đó viện trợ quân sự tới 70% (Lê Mậu Hãn (Chủ biên), 1998, Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 3 Nxb GD, HN, Trang 193).